Thư viện › Thánh Ngôn — Chiếu Minh Đàn (1929)
TIỂU TỰ
Lời tựa của Đặng-khắc-Kỷ
Nay tôi ra chút công mà tuyển soạn sắp đặt lại cho phân biệt, có thứ tự những bài Thánh ngôn của Đấng Chí Tôn và chư Tiên. Thánh Phật giáng cơ cho hồi tháng bảy năm Bính Dần (1926) là ngày sơ khai mối Đạo tại Cantho.
Tôi lượm lặt biên chép những lời Thánh dụ khuyên dân chúng về việc tu hành, Đạo-đức, nhơn luân, cải tà qui chánh, lánh dữ làm lành, chẳng mê đắm cuộc Hồng-Trần mà kiếp sau mình phải chịu vào chốn trầm luân khổ não, lục đạo luân hồi.
Trong văn thi lục ra đây, cũng có một vài chỗ sai sót lỗi quấy chẳng không, là bởi: 1º Hoặc độc-giả coi chữ không rõ khi Thần cơ viết mau, chẳng kịp cầu hỏi lại.
2º Hoặc sao lục cùng in lại còn để sai lộn mà chẳng thấy. Vậy chư Quí vị thấy có chỗ nào sai sót, lầm lỗi, xin miễn trách. Những văn từ của Thần Tiên cho ra mà dạy đạo cũng tùy theo trí thức của chư nho. Song cái đại khái yếu lý là: nếu mình muốn rõ mối đạo, thì phải ra công coi đọc cho hết những bài Thánh ngôn mà suy xét tìm kiếm nghĩa lý cho cùng tột, cho rõ biết cuộc đời: Dinh hư tiêu trưởng. Thạnh suy bỉ thới. Thiệt hư hư thiệt, vay trả trả vay. Thưởng phạt báo ứng là thế nào; phải làm làm sao đến lúc chung qui cho đặng siêu sanh liễu tử, nhờ chút Thiên ân đặng hưởng cuộc thanh nhàn vui vẻ đời đời.
Đặng rõ luật kinh Tạo Hóa lò
Khắc ghi vào dạ bữa tìm mò
Kỷ càng nghĩa lý phân rành rẽ
Tuyển dượt chánh tà sớm liệu lo
Soạn chép lời vàng khuyên tỉnh ngộ
Đủ điều tiếng ngọc thuyết trần cho
Thánh Tiên thương chúng còn mê muội
Ngôn ngữ thiệt hơn để dạy trò
Dạy trò chớ nệ chữ thẻ thằng
Người trí an hòa việc ở ăn
Thế sự hằng lo ngày rốt cuộc
Coi đời kịp sửa lúc còn măng
Theo lần đàng cả qua truôn khổ
Mà tập lòng thành bỏ thói nhăng
Học biết xét suy lời Khổng, Mạnh
Đạo mầu tua nhớ mấy điều răng.
Đặng-khắc-Kỷ KỈNH SOẠN
Văn thi Tiên Thánh ý cao thâm
Xương tạc lòng ghi để hiểu ngầm
Đế tánh gội nhuần nhơn đức tánh
Quân ân lo đáp nghĩa ân tâm
Giúp đời dịch sách ngừa câu lỗi
Diễn nghĩa sám kinh tránh chỗ lầm
Lời tặng Thánh Ngôn ngàn lượng giá
Tựa nầy ai hiểu mới tri âm.
Tựa rằng:
Hồn độn sơ khai, Càn Khôn ký định, Bàn-Cổ kế truyền, là chúa loài người, phân ra tam tài, dĩ khinh thanh chi khí, mà làm Tiên, làm Thánh, ở thế gian làm phàm.
Qua đầu nhà Châu, Lão-Tử lập ra Tam Giáo là: Nho, Thích, Đạo. Tuy chia ra ba nhánh mà hành đạo, mà do theo Tam Tài, chớ kỳ trung một gốc vạn sự tùng Nho giả xuất, nhưng nho để truyền sau. Đạo là tại thế gian.
Đại Đạo. — Hồn độn sơ khai, càn khôn phối hiệp, nhứt hoán thiên địa, nhơn tài chi khí, mới sanh loài người và sanh muôn vật, do nơi Diêu-Trì-Kim-Mẫu chi chất mà ra, còn người biết tu, cũng trở lại làm Tiên làm Thánh đặng.
Hiểu rằng:
Người thọ bẩm thiên địa chi khí mà sanh ra, nếu muốn trở lại Tiên Thánh, thì ngoài phải cùng thông thiên địa, âm dương tạo hóa chi cơ, trong phải dùng nhơn thân điên đảo, phản huờn chi pháp mà luyện đặng Dương Thần, mới siêu phàm nhập thánh, muốn biết mấy phép ấy, trước hết phải thục độc câu: Khí chi khinh thanh, thượng phù giả vi Thiên, khí trọng trược, hạ ngưng giả vi Địa, mà tu tâm luyện tánh và giữ tam qui ngũ giái vi bổn. Đạo có dạy người tu từ đời Bàn-Cổ.
Đạo Nho. — Là dạy việc nhơn luân, Tam-Cang Ngũ-Thường chi bổn, làm vua, dĩ đức hành nhơn, quản khai thiên hạ, giáo dân gia vô thập đạo, mạc cố chiến tranh, thường tưởng thái bình tứ hải.
Làm tôi, nhẫn tâm sự chúa, tế thế an bang.
Làm con, thảo thân, hiếu, đễ, bất cảm hủy thương, phụ mẫu chi sở ký.
Đạo Thiền. — Chuyên vu thanh tịnh, toàn bằng chơn tâm, chẳng tham công danh phú qui, cần tu công quả, xa lánh Bàng môn, chẳng nạp mộng huyền bào ảnh, không không sắc sắc, thủ tâm như nhứt, trọn giữ Tam Qui Ngũ Giái.
Tam Qui là: Phật, Pháp, Tăng.
Qui Y Phật: Chơn tịnh tam tâm, tảo trừ lục dục, chi thanh, chi tịnh, bất đảo chơn tánh.
Qui Y Pháp: Chẳng phải lẽ chẳng nghe, chẳng làm, mở miệng chẳng kiêu căng, lời nói rất kiêng dè, chẳng sai phép nước, lòng chẳng tính lợi riêng.
Qui Y Tăng: Minh lo thanh tịnh, siêu xuất tam giái, phải biết sanh tùng hà xứ lai, tử tùng hà xứ khử, lão thuộc sanh môn tử hộ. Thường thanh thường tịnh, thường tại, bất diệt, gặp giận gặp mừng, giai vô hoán sắc.
Tam Giáo qui nhứt là: Pháp, vô nhị pháp, gốc nơi Lão-Tử chi sơ khai, Tam Đạo huờn lai nhứt mạch. Nghĩa là 3 mối đạo cũng của Lão-Tử, còn Tam Kỳ, tức thị tam thiết Long Hoa đại hội Thần Tiên giáng thế, cứu độ trần gian, cải tà qui chánh, làm lành lánh dữ, chờ khi mãn số, khỏi bị luân hồi, tiên thiên phản bộ, mới đặng siêu sanh liễu tử.
Tam Giáo nguyên lai nhứt mạch đồng
Thế thượng thùy tri ý vị thông
Lý Nhĩ sơ khai duy hữu nhứt
Hậu lai nhơn sự chiếc tam tòng
(Thành Hoàng Bổn Cảnh)