ĐẠI ĐẠO PHỤC HƯNG — CAO ĐÀI XUẤT THẾ — CÁCH THỨC THỜ PHƯỢNG
20 tháng 9 Bính Tý (1936)
THI
CAO quá đỗi cao mấy kẻ tầm ĐÀI linh thần khí tụ nơi tâm THƯỢNG điền lập đảnh âm dương kết ĐẾ dĩ long thăng hổ giáng lâm.
(Cười...) Cuộc đời cay nghiệt, nhiều nỗi éo le, nạn nọ tai kia kế đến ngày tạo thiên lập địa. Máy hành tàng chưa thấu đáo, phép nhiệm mầu cơ Tạo đã bày ra. Ôi là thảm khổ cho đời sẽ chịu vùi chôn trong cuộc tang thương biến đổi.
THẦY nay giáng đàn là đem đôi lời đạo đức giảng giải cho đời tỉnh giấc ngây ngần huỳnh lương chi mộng.
THI
Đại Đạo vô hình giục chúng sanh Đạo khai thiên địa Đạo lưu hành Đạo truyền xuống thế đời an trị Đạo đức năng tu quả vị thành.
Đạo là vô vi mà hữu tác. Đạo có động mà có tịnh, để dưỡng dục chúng sanh và lưu hành trong càn khôn vũ trụ. Cũng trong một Lý một Khí mà Đạo đã tạo thành nghìn giống muôn vẻ. Đạo lại lúc ẩn hồi bày, cứ biến hóa đổi thay, thiệt là toàn năng cơ mầu nhiệm.
Đạo hay sanh mà hay sát, nhưng sanh hay sát cũng do tại lòng người đào tạo mà ra. Lắm khi nó ở chỗ gần mà người kiếm nơi xa, nó ở chỗ dễ mà người tầm nơi khó. Vả Đạo không xa người, chỉ tại người thường xa Đạo; mà hễ người xa cách Đạo thì người khó sống đời. Đạo lại vô ảnh vô hình, vô thinh vô xú, bởi vậy lắm khi người tầm không đặng, kẻ kiếm không ra, đó cũng vì lúc nó lại, hồi nó qua, không bao giờ ngưng nghỉ.
Đây THẦY giải sơ chỗ Đạo vô vi mà ứng lộ nơi hữu hình.
TẠI SAO ĐẠI ĐẠO PHỤC HƯNG CAO ĐÀI XUẤT THẾ?
Đạo phục hưng là vì lòng bác ái, từ bi của THẦY thấy cuộc tuần huờn hầu mãn, cơ dĩ định cận kề, không lẽ để đám con thảy phải chung chịu trong cuộc tang điền thương hải, mà bị chôn lấp cả xác hồn, nên mới giáng thế phục hưng chơn truyền để chỉnh đốn đời U Lệ trở lại đời Nghiêu Thuấn, cho người người rõ đạo đức tu hành, hầu thuận theo Thiên lý mà bỏ dữ làm lành và kềm nhơn dục để xa đường tội lỗi.
Đạo lập ra cốt yếu để độ phần hồn của nhơn loại cho thoát khỏi chốn mê đồ, vòng tân khổ, nên mới gieo chơn truyền khắp chỗ, cốt tỉnh ngộ nhơn sanh.
Đã biết rằng Đạo là thanh thanh tịnh tịnh, không ứng lộ ra ngoài, nhưng muốn lập giáo phải làm sao?
Phải bày cơ hữu hình để chỉ cho rõ lý mới được. Vậy cách lập giáo của THẦY cũng không chi lạ, chỉ noi theo Tam Giáo trước mà làm quy củ chuẩn thằng rồi đem gồm về một mối chánh.
Tam Giáo trước là NHO, THÍCH, ĐẠO vì hoằng khai cũng đã lâu đời, nên bị biến cải mà thành thử phải thất chơn truyền làm cho sai lạc mất hết cả Thiên cơ mầu nhiệm, bởi đó nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì chẳng có.
Lại cũng bị thất truyền mà Tam Giáo lần lần phải chịu lu lờ mờ mịt. Nẻo chơn không ai đến, đường chánh chẳng người đi, nên cỏ mọc bìm leo, gai rào cây lấp. Vì lẽ đó nhơn loại phải chịu mãi trong vòng dây luân hồi tứ khổ, đày đọa mãi ở chốn trần ai. Nhơn sanh cũng vì vậy mà lần lần tiêu đạo đức, phế tinh thần mới chuộng sự hữu hình, nên bày những âm thinh sắc tướng. Không ai còn để chí, lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạn thấy tạn nghe, rồi cứ dẫy lòng nhơn dục tham mê, mới gây tội ác nặng nề, phải mang lấy sừng lông mà bị thối hóa lại súc sanh và luân hồi lục đạo.
Ba nhà tôn giáo đã thất chơn truyền:
1. Đạo THÍCH, đạo THIỀN bày dị đoan từ đời THẦN TÚ làm mê hoặc chúng sanh. Vậy cũng phổ độ, cũng giựt giành mà chỉ đem con người vào đường u ám, lạc lầm. Kinh sám truyền lại mà không khảo cứu kiếm tầm cho ra chơn lý, chẳng định trí tham thiền, không gom thần nhập định.
2. Còn NHO GIÁO, sau đời MẠNH TỬ, càng ngày càng lạc lầm, đường Thiên lý chẳng cần, chỗ thâm nhiệm không rõ, chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích kỷ chớ không chịu học để sửa mình, tầm hiểu cho tột cùng cái lý cao siêu huyền bí, cái cơ nguồn cội muôn loài.
Học là cốt để mở mang tinh thần trí hóa đặng trau giồi cho tận thiện tận mỹ cái cơ hữu hình, chớ học mà để cầu vinh hay là mong mỏi đến quyền cao chức cả, ấy là người tiểu nhơn hạ trí, không biết cầu lấy cái cao siêu quý trọng, nhứt là Thiên chức mà Trời đã nấy trao cho.
Con người có hai cái phận sự: thứ nhứt là Thiên chức, thứ nhì là nhơn tước. Thiên chức là cái chức vụ thiên nhiên của Trời phú cho người, còn nhơn tước là cái tước phẩm phàm trần của người phong cho người.
Người quân tử bao giờ cũng cần phải trau giồi tánh cách cho hoàn toàn, đào luyện tinh thần cho thuần khiết, để lo cho tròn cái Thiên chức ấy. Vả con người hễ Thiên chức đã hoàn toàn thì Nhơn tước nào lại khó chi. Nhưng người đời lại hay có tánh ham ngọn mà bỏ gốc, nên hằng đem hết thần hồn mà đắm say về nhơn tước chớ không cần nhớ đến cái Thiên chức chút nào. Ấy thiệt là đám hủ nho vậy.
3. Còn ĐẠO GIÁO là huyền bí, thậm chí ư huyền bí, chỉ có người bực thượng trí mới thấu đáo chỗ căn nguyên, còn bực thường nhơn hạ trí thì rất khó thông cơ mầu nhiệm, bởi vậy mới hiểu lầm tưởng sái mà bày ra phép tắc, phù chú làm cho mê hoặc thói đời thêm hư phong tục, khiến người nhiễm lấy dị đoan nào là hô phong hoán võ, tróc quỷ trừ ma, bày binh bố trận, mới biến ra tả đạo bàng môn, thiệt là rất hại.
Ngày nay, THẦY đến đây đem ba nền tôn giáo hiệp nhứt lại, tạo thành một tòa lớn lao để đời đời kiếp kiếp cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ thảm sầu. Ba nhà tôn giáo ấy tuy đổ sập mặc dầu, nhưng THẦY cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn dùng đặng thì THẦY lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra; như cột, kèo, xuyên, trính, ngói, gạch, cái nào còn nguyên thì dùng, cái nào bể nát hay hư hao, bị mối ăn sâu đục thì bỏ ra. Cây nào cong vạy thì uốn nó lại, trừ ra uốn không nổi mới bỏ. THẦY lấy các vật ấy ráp lại thành một tòa ĐẠI ĐẠO cho nhơn sanh sùng bái, tu hành là tòa nhà ngày nay THẦY lập thành đó.
Tại sao ba nhà tôn giáo đó phải bị xiêu đổ? Là tại cái nền tảng không đặng cứng cát, vững vàng, cất ở trên nổng cát, bảo sao gió thổi không xiêu, giông to chẳng đổ. Chớ còn ngày nay THẦY đến đây lập một tòa CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO thì trước hết THẦY đã biểu các con xây nền đắp móng dưới cho chặt chịa, vững vàng rồi mới cất tòa nhà đồ sộ ấy lên, thì sẽ đặng bền vững lâu dài hơn ba nền tôn giáo trước.
CÁCH THỨC THỜ PHƯỢNG
Đây THẦY giải sơ về cách thức thờ phượng của CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO. Tại sao THẦY lại biểu các con tạo ra THÁNH NHÃN mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các tôn giáo khác? Các con phải biết rằng Trời là Lý thì Lý ấy rất thông linh bao quát càn khôn thế giới. THẦY đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con, nên chi thờ Thiên Nhãn là thờ THẦY.
Tại sao Thiên Nhãn là THẦY? THẦY có dạy trước: “Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị Thiên, Thiên giả ngã dã.” Nhãn là trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo Hóa tức là Thần mà Thần là cái lý hư vô. Lý hư vô ấy là Trời vậy.
Người tu hành chừng nào luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần huờn hư, luyện hư huờn vô thì Huyền Quan nhứt khiếu ấy mở hoát ra.
Huyền Quan nhứt khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy. Nó ở ngay Nê Huờn cung, gom trọn chơn dương chánh đạo. Hai con mắt của các con là nhục nhãn, tức là âm với dương, thì cũng như Thái Cực là Thiên Nhãn, còn lưỡng quang là nhựt nguyệt hằng soi sáng khắp càn khôn, cứ tuần huờn mãi, hết ngày đến đêm, hết đêm kế ngày, không bao giờ dứt sự hành tàng của Tạo Hóa.
THI
Luyện thuốc kim đơn rõ Đạo mầu Thành tiên tác phật tại song mâu Âm dương toàn ẩn cơ tại mục Thần khí thông linh tại thượng đầu.
Đây THẦY giải về VÔ CỰC ĐĂNG.
Trước khi chưa phân trời đất thì khí hư vô bao quát càn khôn sáng soi đầy trong vũ trụ. Nó là một cái trung tâm điểm tức là Đạo. Đạo ấy mới sanh Thái Cực, hóa Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi là âm với dương (động với tịnh). Có âm dương rồi mới hóa sanh muôn vật.
Ngọn đăng các con thờ chính giữa đó là giả mượn làm tâm đăng. Phật Tiên truyền đạo cũng do đó, các con thành đạo cũng tại đó. Nó ngay chính giữa không lay động, xao xuyến, chiếu soi khắp cả càn khôn. Mặt nhựt, mặt nguyệt có lúc sáng hồi tối, chớ nó thì giờ khắc nào cũng tỏ rạng không lu lờ. Nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui. Trời đất nhờ đó mà quang minh trường cửu. Người tu hành nhờ đó mà tạo Phật tác Tiên, siêu phàm nhập thánh. Hễ chinh qua bên tả thì thành tả đạo, xê qua bên hữu thì lại bàng môn, ngay ở giữa là chánh đạo. Các con nên tường lý ấy. Lý ấy ở trong tâm. Tâm an tịnh vô vi, tự nhiên bất động là chánh đạo. Tâm còn tính mưu thần chước quỷ, độc ác hiểm sâu, ấy là bàng môn tả đạo chớ chi các con. Còn HAI CHÉN NƯỚC là âm dương (động và tịnh). Âm dương là cơ động tịnh của trời đất tức là thần khí của các con. Tu hành không nhờ thần khí lấy gì luyện đắc Thánh thai. Trời đất không có âm dương làm sao hóa sanh vạn vật. Muôn vật không trống mái làm sao sanh sản thêm ra. Vậy âm dương là cái diệu động tịnh của trời đất vậy. Âm dương lại có thêm cái thể dụng của âm dương nữa là nhựt, nguyệt, tức là CẶP ĐÈN (Lưỡng Nghi). Người tu hành biết cách hồi quang phản chiếu thì đắc kim đơn. Cơ tại mục là vậy.
Trên có LƯ HƯƠNG tức là tiên thiên lập đảnh, tượng ngũ khí, ngũ hành.
Dưới có LƯ TRẦM là hậu thiên an lư, hóa ngũ linh, ngũ đức. Trên đầu là đảnh, dưới đơn điền là lư.
Còn HOA, QUẢ, TRÀ là tam bửu của các con. Ngày nào hiệp tam bửu rồi là ngày thành đạo.
TRƯỜNG THIÊN
Khí hư vô tạo ngôi Thái Cực Tức là ngôi độc nhứt quang minh Vô vi, vô ảnh, vô hình Thần thông quảng đại chí linh diệu huyền Trong vũ trụ trọn quyền sanh hóa Nắm trong tay khắp cả càn khôn Nấng nuôi vĩnh kiếp trường tồn Làm cho xác thịt linh hồn an vui Người tâm chí nhiễm mùi đạo đức Gia công tìm mẹo mực Tạo Đoan Rõ thông trong máy hành tàng Bảo tồn thân thể vững vàng bền lâu Khắp vũ trụ một bầu thiên địa Cơ vận hành bốn phía mở mang Phân ra địa ngục Thiên Đàng Các con sao vén nổi màn huyền vi Đạo ẩn tàng, có khi ứng lộ Phật Tiên truyền để độ chúng sanh Chỉ phương siêu thoát đành rành Thuận tùng Thiên lý tu hành lại ngôi Phép Đạo tránh luân hồi tứ khổ Mà tầm vào đến chỗ quang minh Bày ra giả tướng hữu hình Đặng làm thể Đạo chí linh diệu huyền Người gọi là tiểu thiên địa đó Người với Trời nào có khác chi Hễ Trời có những món gì Người người đều cũng đủ y như Trời Trong thân thể đổi dời tấn hóa Người biết tu mau khá trau giồi Coi như có lở thì bồi Cho đầy đủ lại phục hồi cựu nguyên Phật nhập định tham thiền tầm lý Mà dưỡng thần, tinh, khí đủ đầy Làm cho bánh phép hằng xây Âm dương luân chuyển gió mây vận hành Tiên tịnh tịnh thanh thanh bất động Để cái tâm trống lổng chẳng xao Tâm xao biển dậy ba đào Trược thanh cũng phải lộn nhào đó con Con biết Đạo giữ còn tâm đạo Mang thân người lộn lạo âm dương Pháp luân con chuyển cho thường Xuất huyền nhập tẫn là đường giao thông Luyện âm tuyệt lòng trong đắc quả Âm tuyệt rồi Đạo đã thuần dương Thuần dương thẳng đến Thiên Đường Làm Tiên Thánh Phật thoát đường tử sanh Chơn dương hết thì thành ma quỷ Âm dương đồng tức thị là người Hạo nhiên cướp đặng tốt tươi Đem vào nuôi nấng thân người trường sanh Dạy sơ qua hiểu rành lấy trẻ Phép nhiệm mầu không lẽ chỉ nhiều Tìm vào đường giác thì siêu Biết phương thoát khổ phải chiều Thiên cơ Đạo không thấy, nghe rờ sao đặng Đạo im lìm phẳng lặng tự nhiên Đạo thông lưu khắp hậu tiền Đạo là then máy diệu huyền biết bao Đạo không thấp, không cao chi cả Đạo không dùng phép lạ hoặc nhơn Đạo là chí chánh chí chơn Toàn năng, toàn thiện là đơn luyện thành Đạo dưỡng dục vận hành bao quát Đạo độ người hay sát hay sanh Suy cho thấu, hiểu cho rành Giải sơ hình thể chúng sanh bề ngoài Tôn chỉ đạo Cao Đài tỏ rõ Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô THIÊN BÀN làm cái bản đồ Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình Tuy là sự giả hình sắp đặt Trái trông sao thì mặt cũng in Người tu phải biết giữ gìn Chuẩn thằng quy củ mà tìm Thiên cơ Tại sao lại dạy thờ THIÊN NHÃN Thiên Nhãn là căn bản chúng sanh Đó là một Đấng trọn lành Một ngôi CHÚA TỂ hóa sanh muôn loài Trong các giống, các nòi do đó Mà ngày nay mới có tại đây Hạ nguơn máy Tạo vần xây Nên chi TỪ PHỤ dựng gầy cơ quan Biết tu sớm hội bàn lập vị Trước dạy rồi nhãn thị chủ tâm Tâm là chủ tể cao thâm Quang minh chánh đại muôn năm vững vàng Phải rõ biết lưỡng quang chủ tể Quang thị Thần, Thần thể thị Thiên Thiệt là diệu diệu huyền huyền Trời người có một chẳng riêng khác gì Trời là Lý vô vi tuyệt diệu Tức là Thần phản chiếu càn khôn Người kêu bổn tánh linh hồn Đời đời kiếp kiếp trường tồn không hư Phép biến hóa đầu từ suốt cuối Khai Huyền Quan tánh muội đắc thông Toàn tri hiển hiện chơn không Huyền Quan khai xuất nhãn thông côn đoài Đoạt thấu chỗ bổn lai diện mục Luyện cho thành cửu khúc minh châu Tha tâm thông mối nhiệm mầu Lấy kim đơn tại song mâu vào lò Thần cảnh thông Đạo do tâm đắc Diệt lục trần, lục tặc ngoài trong Làm sao cho lậu tận thông Thành tâm tuyệt vọng trống trong mới mầu Đạo hư vô người hầu đoạt lấy Thiên Nhãn thông mới thấy suốt tường Nhãn là Thần đã thuần dương Công viên quả mãn đắc trường sanh an Cách sắp đặt Thiên Bàn thờ phượng Mượn hữu hình sắc tướng truyền đăng Tam Tông đem Đạo khai hoằng Dụng tâm chánh giác công bằng chấp trung Nói sao cho tận cùng lý Đạo Vẽ vời ra máy Tạo khó thay Mỗi người có tánh Như Lai Tầm ra thấy sẵn Thiên Thai bên mình Chỗ chí diệu, chí linh Đạo cả Âm dương hòa sanh hóa Phật Tiên Cái cơ động tịnh diệu huyền Luyện thành chánh quả nhờ truyền âm dương Trời, đất, người, một phương một lý Trong mình người thần khí giao nhau Cang nhu, trống mái một màu Đục trong lừa lọc thì mau chứng thành NĂM CÂY NHANG ngũ hành mới tượng Mới phân ra bốn hướng bốn phương CẶP ĐÈN là tiểu âm dương Tức là nhựt nguyệt chiếu chương đêm ngày Vận hành mãi trở day lăn lộn Soi sáng cùng chốn chốn nơi nơi Làm cho rực rỡ đất trời Người là đôi mắt ấy thời khác chi Mắt thuộc hỏa là Ly thần trụ Luyện thâu về cho đủ một cân Kim đơn nhờ hiệp khí thần Tan ra là khí tụ đông thành hình Tinh, khí, thần, trong mình có đủ HOA, QUẢ, TRÀ thể dụ tam quang LƯ TRẦM để tại trước bàn Tiên thiên lập đảnh, hậu càn an lư.(4) (4) Hậu là hậu thiên.