THẬP TỰ TAM THANH
28 tháng 8 Bính Tý (1936)
THI
NGỌC chẩm huyền môn phá khiếu trung HOÀNG lư pháp diệu Khảm Ly cung THƯỢNG điền ký tế âm dương huợt ĐẾ dĩ càn khôn vạn vật tùng.
Mừng các con, đại tịnh, nghe THẦY minh đạo.
THẦY giáng giờ nay là vì các con nhứt tâm thiện nguyện tu hành đặng thoát ly tứ khổ.
Than ôi! Các con còn khuyết điểm rất nhiều trong bước đường đạo đức. Ngày nay đã tìm ra lý chánh, lánh đường tà thì các con phấn lực tận tâm thiệt hành pháp diệu. THẦY sẽ truyền đạo pháp chỗ QUÁN NHỨT CHẤP TRUNG cho các con phanh luyện, tụ khí ngưng thần hầu có siêu phàm nhập thánh. Nếu các con chẳng đặng nhứt tâm thì phải chịu luân hồi chuyển kiếp vạn vạn muôn muôn, tùy cơ tuần huờn vận chuyển mà tấn hóa mãi cho tận đến nơi THẦY, biết bao nhiêu là khó khăn lao lụy. Vậy các con phải biết rằng Đạo là vô vi, hạo nhiên chi khí, vận tải châu lưu trước khi sanh trời đất. Trời đất phải bẩm thọ khí hạo nhiên sanh ra rồi phân định nhựt, nguyệt, tinh cùng muôn loài vạn vật. Các con ngày trước thọ bẩm nơi THẦY một điểm thanh hư huyền khí, giáng trần bị khí hậu thiên hãm sát làm cho vật báu linh biến tan ra nơi thất tình, lục dục, lục trần, lục căn mà tiêu tan lần lần hết tam bửu ngũ hành. Càng ngày càng làm cho hư hỏng cái điểm thanh quang của THẦY ban cấp, biết đường sá đâu mà trở lại, dầu có muốn trở lại cũng chẳng dễ gì. Là tại sao các con?
Là tại không có Thánh thai Phật tử đó vậy.
Tại sao các con phải chịu chuyển kiếp luân hồi?
Là vì các con xa nơi chỗ Đạo, hư hỏng tinh thần, tiêu mòn khí huyết, chẳng biết đem tánh mạng hiệp hòa, luyện tam bửu cho đầy, quy năm hành nhứt khiếu.
Sao lại tử tử, sanh sanh?
Các con muốn hiểu chỗ Đạo thì trước phải phanh luyện tinh thần và phải tạo một cái xác thân thiêng liêng kêu rằng mâu ni hay là xá lợi. Cái xác thân thiêng liêng ấy bất tiêu bất diệt, bất tử bất tồn, mà các con cần phải có xác thân ấy. Xác thân ấy là chi?
Là cái bổn tánh thuần dương vậy. Khi các con bỏ xác phàm nầy thì điểm linh quang của các con nương theo đó mà về thẳng đến nơi THẦY. Còn các con không có cái xác thân ấy, các con phải chuyển kiếp khác hoài hoài, luân hồi khó dứt. Còn như các con không chuyển kiếp đầu thai thì các con phải luân vơi nơi âm dương khí mà hóa tan rã ra thành mây mưa gió bụi. Vậy thì điểm linh hồn của các con phải tiêu diệt còn chi. Các con phải biết rằng muốn tạo xác thân thiêng liêng ấy chẳng phải dễ mà cũng không khó chi. (Cười ...)
THẦY hỏi thử: như loài thủy tộc nó không luyện đến khí hư linh nầy, nó bỏ nước mà ở khô đặng chăng? Là vì nó ở chất thủy quen (khí chất lỏng). Ít nữa muốn ở nơi thủy mà lên khô ở thì cá ấy phải luyện cho hạp với khí hư không, còn không hạp thì trong đôi phút đồng hồ phải dứt hơi mà chết. Các con khá biết à!
ĐÂY THẦY GIẢI VỀ THẬP TỰ TAM THANH.
Tại sao thờ Thập Tự? (Cười...) Các con không hiểu đâu. (Cười...) Đó là Đạo.
Tại sao kêu là Đạo?
Cái sổ dài xuống | là nhứt dương chi khí hay là hạo nhiên khí.
Còn cái ngang qua 一 là nhứt âm chi khí hay là huyền khí.
Âm dương ấy có động có tịnh, nó có trược có thanh mà trong âm dương đó có lẫn lộn nhau:
Âm có lẫn lộn một phần chơn dương (trung âm hữu dương) nên có huyền khí xung lên.
Dương có lẫn lộn một phần chơn âm (trung dương hữu âm) nên có lửa hư vô trầm xuống.
Hai khí ấy bèn đun đẩy, đụng chạm nhau mà hỗn hiệp mới huân chưng đầm ấm, hóa hóa sanh sanh muôn loài vạn vật. Hai điển quang ấy gác chồng nhau (làn điển dương nằm trên, làn điển âm nằm dưới), kêu rằng Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi mới sanh Tứ Tượng là vì làn điển âm dương gác chồng nhau, ló ra bốn cánh thành chữ Thập . Chữ Thập đó mới vần vần quanh lộn, chạy lăn tròn như chong chóng mà văng tủa ra muôn ngàn triệu quả linh cầu thế giới.
Chữ Thập ấy ở dưới có bốn cái bóng kêu là Tứ Âm. Tứ Âm với Tứ Dương mới kêu rằng Bát Quái. Bát Quái ấy tác thành thì biến hóa vô cùng vô tận, nên mới phân định ngũ hành cùng là càn khôn muôn vật. Các con rõ chăng? Đó là THẬP TỰ.
Trong Thập Tự các con thờ ngày nay đó lại có đề:
1. Sổ dài xuống:
a. Ở phía trên đề: HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG
ĐẾ, NGỌC HOÀNG ĐẠI THIÊN TÔN.
b. Ở dưới: CAO ĐÀI, THÁI BẠCH, THỔ THẦN,
TIÊN ÔNG, là ý nghĩa gì?
Ở trên thuộc về cao thượng vô hình, còn ở dưới thuộc về hậu thiên hữu chất.
Chữ CAO ĐÀI là chi?
Là Côn Lôn đảnh hay là Nê Huờn, thuộc về thượng giới. Chữ THÁI BẠCH là cái tâm kêu là Linh Sơn tháp, thuộc về trung giới.
Chữ THỔ THẦN là đơn điền kêu là Huỳnh Đình, thuộc về hạ giới.
Tại đơn điền là chỗ chứa đơn, an lư lập đảnh mà luyện Thánh thai. Chừng nào Thánh thai đó đặng siêu xuất tam giới thì hiệp với thượng thanh chi khí.
Vậy trời cũng có tam giới là vô sắc giới, sắc giới và dục giới; còn trong thân thể con người cũng có tam giới. Chừng nào linh hồn phá Thiên Môn đặng là nhập vào Thượng Thanh cung.
Thiên Môn là chi? Là cái khiếu Nê Huờn cung đó.
2. Sổ ngang qua lại có đề TAM THANH chi vị. Tam Thanh là CHƠN THANH (Thái Thanh), NGỌC THANH, và THƯỢNG THANH.
CHƠN THANH là nguơn khí của các con.
THƯỢNG THANH là nguơn thần.
NGỌC THANH là nguơn tinh.
Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt mới thành đạo, các con khá hiểu à.
Trời có ba báu là nhựt, nguyệt, tinh, hay là tam nguơn (thượng, trung, hạ).
Đất có ba báu là thủy, hỏa, phong.
Người có ba báu là tinh, khí, thần.
Trời nhờ ba báu ấy mà dưỡng dục muôn loài, hóa sanh vạn vật, luân chuyển càn khôn mới chia ra ngày đêm, sáng tối.
Đất nhờ ba báu đó mà phong võ điều hòa, cỏ cây tươi nhuận, phân ra thời tiết xuân, hạ, thu, đông.
Người nhờ ba báu đó mà tạo Tiên tác Phật.
TAM GIÁO
Đây THẦY giải về TAM GIÁO (Nho, Thích, Đạo).
NHO thì có Tam Cang là:
Quân thần cang là nguơn thần.
Phụ tử cang là nguơn khí.
Phu thê cang là nguơn tinh.
Tại sao quân thần cang là nguơn thần?
THẦN ở trong mình con người như vị đế vương cai quản một quốc gia; KHÍ cũng như chư hầu, bá tước; TINH như con dân.
Hễ vị đế vương hôn muội thì quốc dân bất minh, chư hầu bất phục, làm sao mà bình trị quốc gia?
THÍCH thì Tam Quy là:
Quy y Phật là tịnh dưỡng nguơn thần.
Quy y Pháp là gìn giữ nguơn khí.
Quy y Tăng là bảo tồn nguơn tinh.
ĐẠO thì Tam Thanh là:
Chơn Thanh (Thái Thanh) là nguơn khí.
Thượng Thanh là nguơn thần.
Ngọc Thanh là nguơn tinh.
Đó là Đạo, các con phải biết.
NGŨ HÀNH
Đây THẦY phân ra NGŨ HÀNH.
Trong chữ Thập ấy, âm dương gác chồng lên nhau mới ló ra bốn cánh mà kêu rằng Tứ Tượng thành hình. Bốn cánh ấy phân ra Nam, Bắc, Tây, Đông.
Lấy trung tâm cốt là Mậu Kỷ: Thổ.
Bên tả làm Đông phương thuộc Giáp Ất: Mộc.
Bên hữu làm Tây phương thuộc Canh Tân: Kim.
Trên làm Nam phương thuộc Bính Đinh: Hỏa.
Dưới làm Bắc phương thuộc Nhâm Quý: Thủy.
Trời thì có tiên thiên ngũ khí, hậu thiên ngũ hành. Ngũ khí, ngũ hành ấy là:
Thiên nhứt sanh Thủy, Địa lục thành chi.
Thiên tam sanh Mộc, Địa bát thành chi.
Thiên ngũ sanh Thổ, Địa thập thành chi.
Địa nhị sanh Hỏa, Thiên thất thành chi.
Địa tứ sanh Kim, Thiên cửu thành chi.
Ngũ hành, ngũ khí giao nhau mới sanh hóa đặng.
Lại trời có ngũ khí, thì đất có ngũ phương, người có ngũ tạng. Người ngộ Đạo phải lấy ngũ hành ấy chế tạo mà luyện kim đơn cho thành xá lợi. Muốn thành xá lợi cần vận chuyển pháp luân cho ngũ khí triều nguơn, tam huê tụ đảnh. Làm sao cho ngũ khí triều nguơn, tam huê tụ đảnh đặng? Muốn tam huê tụ đảnh phải bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần. Luyện chơn chưởng thành đồ cho tinh hóa khí, khí hóa thần, thần huờn hư. Ba báu quy về tại kim đảnh là thành đạo.
Còn muốn cho ngũ khí triều nguơn phải dụng công phu định cái tâm, gìn cái ý, bế ngũ quan, thì ngũ tạng hiệp về, tâm hồn thanh tịnh vô vi thì:
Nam phương Xích Đế triều nguơn.
Bắc phương Hắc Đế triều nguơn.
Đông phương Thanh Đế triều nguơn.
Tây phương Bạch Đế triều nguơn.
Các con khá hiểu.
Trước khi con người chưa tu luyện thì mỗi hành ở riêng mỗi chỗ, xa nhau như vầy:
Còn biết tu luyện rồi thì ngũ khí triều nguơn như vầy (dính chồng nhau):
Ngũ khí ấy mới xung lên biến hóa vô cùng vô tận: 1 thành 5; 5 đó thành 25; 25 biến hóa ra mỗi một thành năm nữa, là 125... biến hóa mãi thiên hình vạn trạng. Các con ngồi một chỗ mà muốn đi muôn ngàn chỗ thì hóa ra muôn ngàn cái xác thân cũng đặng, đó là Ngũ Khí hiệp thành, Tam Thanh quy nhứt.
CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO VÀ CAO ĐÀI TÔN GIÁO
Đây THẦY giải về CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO và CAO ĐÀI TÔN GIÁO.
CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO thuộc về phần tiên thiên vô vi, tâm pháp bí truyền, chỉ cách tu tánh luyện mạng mà phản bổn huờn nguyên, siêu phàm nhập thánh cho rõ chơn lý căn cơ của trời đất để chọn lựa riêng những [phần ít] người có tánh cách nguyên nhân chán đời tầm Đạo, gác vòng danh lợi, phế dẹp tình đời, không lưu luyến hồng trần, cầu bất sanh bất tử. Đó thuộc về khoa nội giáo tâm truyền khẩu thọ, luyện đạo tu đơn.
Còn CAO ĐÀI TÔN GIÁO là tôn giáo để phổ thông đạo đức, độ người mới bước đầu tiên vào tầm chơn lý, nên chi còn dùng hình thức bề ngoài mà giục lòng sanh chúng, noi theo đường đời, dùng thinh âm sắc tướng, có áo rộng mão cao, tước phẩm chức sắc Thiên phong làm cho vẻ vang trật tự. THẦY hay vừa lòng chúng sanh, muốn món chi THẦY cho món nấy. Đứa thì ham ăn ngọt, đứa lại thích món chua; nào ngọt, chua, cay, chát, con nào dùng món nào, THẦY cũng sắm sẵn cho các con.
ĐẠO là vô vi, vô hình, còn TÔN GIÁO là cái cửa.
Mỗi người muốn thành Phật Tiên phải chun qua cái cửa ấy rồi vô trong là Đạo.
Nhưng THẦY thấy phần nhiều các con lấy làm ngạc nhiên về lẽ đó, sao lại chia nhiều phái nhiều chi, chỗ lại thích vô vi, nơi thì dùng hình thức. Đó là cái cơ tấn hóa của nhơn sanh THẦY để chọn Thánh phân phàm, lọc lừa sàng sảy, nhưng cũng tại lòng dục vọng của các con ham món nầy, muốn vật kia, ưa phép lạ, mới có chia rẽ ra tịnh thất tịnh trường, chi nầy phái nọ, thấp cao tranh biện. Sự ấy là sự giả, bào ảnh bề ngoài, mà dầu cho thật đi nữa, các con luyện thành bửu pháp thì các con cũng không thể làm cho các con đặng thoát khỏi luân hồi. Muốn luyện thành pháp nhiệm thần thông, trước phải tu thân, chánh tâm cho chí thiện chí mỹ. Mà hễ luyện đặng chí thiện thì mới đoạt chí linh. Chớ các con còn mang lấy xác phàm làm sao mà truyền bửu pháp.
Đạo THẦY vô vi, không huyền diệu thần thông chi cả, cốt dạy người nên đạo đức hoàn toàn thành Phật Tiên, chớ không truyền bửu pháp như bên tả đạo, hễ thấy môn đệ bất cứ ai cũng ban, chớ không chọn lựa người hạnh đức, hiền lương. Trao như vậy có phải là phá đời, hại chúng không? Thăng.