17. SỐ TAM NGŨ TRỜI ĐẤT LIÊN ĐỚI
THI
HUỆ đắc huyền vi xuất đạo mầu, MINH thừa máy nhiệm chuyển cao sâu, CHƠN truyền dạy thế hồi bổn giáo, TIÊN tục hồi nguyên chuyển địa cầu.
Bần Đạo chào chư phận sự. Nghe Bần Đạo giải về vũ trụ quan cùng nhơn thân liên đới cùng nhau. Bầu vũ trụ bao la khắp cùng càn khôn thế giới, chia ra ba cõi là Thượng giới, Trung giới và Hạ giới. Chỗ tuyệt đối hư vô, Phật gọi là Tối Đại Niết Bàn, Đạo là Bạch Ngọc Kinh, Nho gọi là Nhị Châu, cũng đồng một chỗ tuyệt đối. Hư vô kia còn có tam thiên đại thiên thế giới, mênh mông vô cùng vô tận. Từ mặt địa cầu sắp lên trung giới, do quả đất, các tinh tú ngày đêm châu lưu xoay chuyển, nhựt nguyệt vận hành, âm dương phân định, mới có ngày đêm sáng tối; sáng từ Mẹo đến Thân, tối từ Dậu đến Dần. Từ Tý tới Tỵ là dương, Ngọ đến Hợi là âm; âm dương xoay chuyển, nhựt nguyệt vận chuyển mới có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Bát quái là: Càn, Chấn, Khảm, Cấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.
Trời có tam bửu là: nhựt, nguyệt, tinh; ngũ khí là đạm khí, dưỡng khí, khoáng khí, hạo nhiên chi khí, huyền khí.
Đất có tam bửu là: thủy, hỏa, phong; ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Người có tam bửu là: tinh, khí, thần; ngũ tạng là: tâm, can, tỳ, phế, thận.
Trời có ba cõi, người có ba hồn. Tam bửu của Trời, đất, người liên đới: 1) của Trời: nhựt là mặt trời, 2) của đất: hỏa là lửa, 3) của người là thần, là linh hồn, liên quan tại cõi thượng giới; của Trời là mặt trăng; của đất là gió; khí là giác hồn, liên quan tại cõi trung giới; của Trời: tinh là sao; của đất; thủy là nước; của người: tinh là tinh ba, là vật chất, là mê hồn, liên quan tại hạ giới.
Ngũ khí, ngũ hành, ngũ tạng liên đới:
Của Trời: khinh khí; của đất là mộc; của người là can, liên đới. Của Trời là dưỡng khí; của đất là thổ; của người là bao tử, liên đới. Của Trời là khoáng khí; của đất là kim; của người là phổi, liên đới. Của Trời là huyền khí; của đất là thủy; của người là thận thủy (trái cật) liên đới.
Tam ngũ của Trời, đất, người liên quan với nhau, nếu muốn thành Tiên, tác Phật, thì phải học pháp tối thượng chơn truyền, luyện quy tam ngũ thì thấy thành chẳng sai. Sơ nhứt chuyển luyện cho tinh hóa khí, điều hòa thân tâm an lặng. Sơ nhị chuyển bế ngũ quan, điều thần hiệp khí. Sơ tam chuyển khử trược lưu thanh, hậu thiên ngưng giáng, thần khí giao thông, thân thể nhẹ nhàng linh hồn minh huệ, cách vật trí tri, mỗi sự vật dưới thế gian này đều hiểu biết, ấy là Bá Nhựt Trúc Cơ, đắc thọ tam kỳ đến Thập Ngoạt Hoài Thai, hoàn thành nhứt bộ, xuất hiện dương thần, triều nguơn ngũ khí thì chứng cảnh không. Sang tứ chuyển mạch máu lưu thông điều hòa thái tức. Ngũ chuyển Nhũ bộ Tam niên, huờn hư vô cực. Lục chuyển thân tâm đều bất động, vô thân, vô thể, vô tâm, vô cấu, mọi việc đều không, đắc thành nhị bộ, xuất thông giáo lý, mở khiếu nhãn quan, các hiện tượng trên cõi siêu hình nơi trung giái đều thấy hết, ấy là chứng Thiên nhãn, Thiên nhĩ thông. Sang thất chuyển hạo nhiên thường trụ, tam hoa tụ đảnh Nê Huờn, cổi rồi bảy thể, xuất hình thân ngoại hữu thân, nhưng phải nuôi thần nơi Côn lôn đảnh. Sang bát chuyển, đắc ngũ thông túc mạng, Cửu niên Diện bích, luyện thần huờn hư. Qua cửu chuyển luyện hư huờn vô thì đắc lục thông, lậu tận, chứng quả Đại Giác Kim Tiên, đơn thơ chiếu triệu, về nơi Bạch Ngọc chứng quả Bồ đề, cùng chư Phật đồng giai, bất sanh bất diệt nơi Tối đại Niết Bàn, pháp hiệp tam bửu, ngũ hành, ngũ tạng, luyện cho ba nhà hiệp một kết thành anh nhi xá lợi. Bởi xác thân con người là tứ đại giả hiệp, mộng huyễn như bào ảnh, lúc không hồi có, nào có lâu dài bền bỉ, linh hồn mượn nó một thời gian trên cõi tạm để trả rồi nghiệt quả, thì nó phải tan ra thể chất, còn linh hồn trở lại cảnh hư vô. Nếu muốn cho đặng trường sanh bất diệt, thì cần lo tu luyện cho đắc kim thân bất hoại, vĩnh kiếp trường tồn, về nơi Đào Nguyên Tử phủ. Nay nhằm buổi hạ nguơn, Tam Kỳ mạt hậu, Đại Đạo phục hưng, nên Bần Đạo lộ gần hết chơn truyền, để cho nhơn sanh ai là người hữu căn, mau tỉnh ngộ, lo tu tâm pháp bí truyền, cho đặng Thánh thai Phật tử, chẳng uổng kiếp sanh tiền cõi tạm.
THI
Đào Nguyên là chỗ hội linh căn, Học Đạo thì tua ráng nắm phăng, Trưa sớm chiều khuya không nản chí, Công phu đắc ngộ đặng phi thăng.
THI BÀI
Trong thân thể khóa chìa của đạo, Người biết tu huờn đáo vị xưa, Chia ra cửu phẩm tam thừa, Tùy căn chỉ giáo cho vừa nhơn sanh.
Khuyên gắng chí thực hành chơn đạo, Luyện chơn thần huờn đáo hư vô, Do nơi thái cực Hà Đồ, Luyện tinh hóa khí điểm tô Nguơn Thần.
Sửa thân thể ân cần hôm sớm, Diệt thất tình trí đởm an nhiên, Ngày đêm để dạ kiền thiềng, Công phu giồi luyện hạo nhiên tương đồng.
Cặp mắt thì lưu thông võ trụ, Phải hồi quang phản chiếu luôn luôn, Soi trong thân thể y khuôn, Đừng ham vật chất là tuồng bụi nhơ.
Tai để lóng huyền cơ đạo chuyển, Tịnh chơn thần, huờn biến đạo Cao, Châu lưu thân thể ra vào, Khí tinh lên xuống một màu châu thiên.
Vận đại dược Đơn Điền nung nấu, Để tai nghe xông thấu Nê Huờn, Vận hành nhựt nguyệt tam quang, Hống diên ngưng kết vượt thoàn về nguyên.
Mũi thì ngửi hạo nhiên chi khí, Khiếu điều hòa vận khí đem lên, Đem lên khai xuất Nê Huờn, Xung thiên mãn địa huờn đơn kết thành.
Lưỡi để nếm mùi thanh cam thủy, Nước cam lồ huyền bí Ma ha, Chơn răng đượm ngọc điều hòa, Khảm Ly Ký Tế, hà xa xoay tròn.
Yểu yểu minh đài soi mờ mịt, Phải điều hòa diện bích cửu niên, Xuất huyền, nhập tẫn châu thiên, Là cơ siêu thoát tiên thiên phục hồi.
Còn xác thân là ngôi độc nhứt, Phải bền tâm chịu cực chớ lơi, Cần tu bốn buổi y thời, Công phu cửu chuyển do trời vượt lên.
Người nếu muốn cho nên học Đạo, Phải biết trần quả báo lánh xa, Gìn tâm hai chữ nhẫn hòa, Chơn truyền thọ ký, thoát mà lao lung.
THI
Lao lung là chỗ khám trần duyên, Nhốt cả quần sanh khó thoát miền, Vật chất say mê trên cõi tạm, Khó mong đắc kiếp lại Đào Nguyên. Đào Nguyên khuyên thế bước lần đi, Học Đạo thì tua hiểu trí tri, Cách vật quan tường cho thấu đáo, Tâm thành đắc Đạo chiếu quang huy.
Quang huy thử thị khiếu huyền môn, Thượng đắc chơn tinh chiếu độc tồn, Chuyển vận khí thần quy cơ thể, Giã từ phận sự, lại Côn Lôn.