Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Kinh Dịch

Hình Vẽ Sự Biến Đổi Của Các Quẻ

Kinh Dịch · Ngô Tất Tố dịch giải

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Thái, Ly Khảm do chiều Đông, Tây giao nhau: Ly Đông, Khảm Tây, thì Khảm ở trên, Ly ở dưới, cho nên hai đàng giao nhau mà thành ra quẻ Ký Tế. Trong quẻ Tiên thiên, Kiền ở ngôi Ngọ mà đây lại nói Kiền sinh ở Tý, là vì Kiền là Dương, bắt đầu sinh ở quẻ Phục, quẻ Phục chính là ở giữa Tý: Khôn ở ngôi Tý mà đây lại là Khôn sinh ở Ngọ là vì Khôn là Âm, bắt đầu sinh ở quẻ Cấu, quẻ Cấu là giữa Ngọ, Ngọ là chỗ mà Kiền đã thành, nay lại lui xuống mà giao với Khôn ờ Tý, đó là “trở lại chỗ đã sinh”, cho nên đến khi đổi một lần mà thành ra quẻ hậu thiên thì Kiền lui về Tây Bắc, Khôn lui về Tây Nam. Trong quẻ Tiên thiên Ly nhằm ngôi Dần, mà đây lại nói Ly trót ở Thân, là vì Thân là ngôi của Khảm. Ly giao với Khảm mà trót ở Thân. Khảm nhằm ngôi Thân mà đây lại là nói Khảm trót ở Dần, là vì Dần là ngôi của Ly, Khảm giao với Ly mà trót ở Dần. Đông là bản vị của Ly, nó biến đổi đi, thì giao với Khảm mà ngoảnh sang Tây, ấy là “Đông tự tiến lên mà sang Tây”. Tây là bản vị của Khảm, nó biến đổi đi, thì giao với Ly mà ngoảnh sang Đông, ấy là “Tây tự lui xuống mà sang Đông”, cho nên biến đổi lần nữa thành quẻ hậu thiên, thấy tiến lên mà được ngôi của Kiền, Khảm lui xuống mà được ngôi của Khôn. Chấn thay cha, bắt đầu làm việc mà phát sinh ở phương Đông; Tốn thay mẹ kế tiếp làm việc mà trưởng dưỡng ở Đông Nam. Tiên thiên chủ về sự giao nhau của Kiền, Khôn Khảm Ly. Khi giao nhau thì nó biến đổi, không có định vị, đó là thì giờ của trời vô cùng, cho nên nói là “ứng với trời”. Hậu thiên chủ về sự giao nhau của Khảm, Ly, Chấn, Đoái, khi giao nhau nó không biến đổi mà có định vị, đó là phương hướng của đất có thường độ, cho nên nói là “ứng với đất”… 66 Chu Hy nói rằng: Từng xét về hình vẽ này mà giải thêm rằng: Chấn Đông, Đoái Tây, tức là Dương chủ tiến lên, cho nên phải lấy con lớn (Chấn) làm trước mà để ở tả; Âm chủ lui xuống, cho nên phải lấy con nhỏ (Đoái) làm quí mà để ở bên hữu; Khảm ở Bắc tức là khoảng giữa của sự lui, con trai ở Bắc mà con gái ở Nam, ấy là “ở lẫn nhà nhau”. Bốn quẻ ấy đều ở ngôi chính của bốn phương mà là quẻ dùng vào việc, nhưng Chấn, Đoái trước mà Khảm Ly sau là Chấn, Đoái khinh mà Khảm, Ly trọng. Kiền ở Tây Bắc, Khôn ở Tây Nam là cha mẹ đã già mà lui về chỗ bất dụng, nhưng mẹ thì thân mà cha thì tôn, cho nên Khôn còn có việc làm mà Kiền thì hoàn toàn bất dụng; Cấn ở Đông Bắc, Tốn ở Đông Nam, là con trai nhỏ (Cấn) ở sau cuộc tiến mà con gái lớn (Tốn) ở trước cuộc lui cho nên cũng đều bất dụng; nhưng con trai chưa đến thầy học, con gái sắp đi lấy chồng, cho nên Tốn đã hơi quay về chỗ làm việc, Cấn thì hoàn toàn chưa dùng gì cả. Bốn quẻ này đều ở bốn góc, nhưng ở Đông (Tốn, Cấn) thì chưa làm việc, mà ở Tây (Kiền, Khôn) thì không làm việc nữa, cho nên Chương dưới (của thiên Thuyết Quái) nói khắp lượt sáu con mà không kể đến Kiền, Khôn. Đến như cuộc gặp nhau của nước (Khảm), lửa (Ly), sấm (Chấn), gió (Tốn), núi (Cấn), chằm (Đoái) thì dùng quẻ của Phục Hy. Đông Long Sơn nói rằng: Ly là mặt trời, mặt trời mọc ở Đông, cho nên trong quẻ tiên thiên, Ly ở về Đông: mặt trời soi thẳng ở Ngọ, là quãng giữa ngày, cho nên trong quẻ hậu thiên, Ly ở về Nam; Khảm là mặt trăng, mặt trăng mọc ờ Tây, cho nên trong quẻ Tiên thiên, Khảm ở về Tây, mặt trăng soi thẳng ở Tý, là quãng nửa đêm, cho nên trong quẻ Hậu thiên, Khảm ở về Bắc. Trong vòng tiên thiên các quẻ ấy ở về chỗ “sinh”, trong vòng hậu thiên, các quẻ ấy ở vào chỗ “vượng”. Chẳng những ngôi quẻ hậu thiên của Khảm và Ly đều theo thứ tự sinh vượng mà Chấn Thủy vượng ở Mão, Đoái Kim vượng ở Dần, Thổ thì vượng ở trung ương, cho nên Khôn vượng giữa quãng Kim Hỏa, Cấn đóng giữa quãng Thủy Mộc, Đoái là Âm Kim, Kiền là Dương Kim, cho nên Kiền tiếp với Đoái ở về Tây Bắc, Chấn là Dương Mộc, Tốn là Âm Mộc, cho nên Tốn tiếp với Chấn ở về Đông Nam, đều theo thứ tự sinh vượng của năm hành. Đó là chỗ dùng của Kinh Dịch. Trở lên có chín hình vẽ Kinh Dịch, có Kinh Dịch của Phục Hy, có Kinh Dịch của Văn Vương, Chu Công, có Kinh Dịch của Khổng Tử. Từ Phục Hy về trước đều không có chữ, chỉ có nét vẽ, rất nên xem kỹ thì có thể thấy cái ỷ rễ gốc tinh vi của việc làm ra Kinh Dịch. Từ Văn Vương trở xuống mới có văn tự, tức sách Chu Dịch ngày nay, nhưng mà kẻ đọc cũng nên xem theo các bản văn suy ngẫm, không thể nhận thuyết của Khổng Tử làm thuyết của Văn Vương.

Lời bàn của tiên Nho

Chu Hy nói rằng: Thái Cực, hai Nghi, bốn Tượng, tám Quẻ là phép vạch quẻ của Phục Hy. Trong thiên thuyết Quái, từ câu: 天地定位 (Thiên địa định vị) đến câu 坤以藏矣 (Khôn dĩ tàng hĩ) là để thấy ngôi tám Quẻ của Phục Hy vạch ra; từ câu 帝出乎震 (Đế xuất hồ Chấn) trở xuống là lời Văn Vương tựa theo những quẻ của Phục Hy đã làm thành mà suy cho rộng nghĩa loài của nó. Như thuyết “cứng lại, mềm tiến” cũng là tựa theo sau khi các quẻ đã thành, dùng ý giải ra, cho rõ quẻ này do ở quẻ kia mà ra, không phải đích thật trước có quẻ kia mà sau mới có quẻ ấy. Lời chua đời xưa nói là quẻ Bĩ do ở quẻ Thái mà ra, tiên Nho đã có công kích, cho rằng: Kiền, Khôn hợp nhau thì thành quẻ Thái, há lại có quẻ Thái biến đổi thành ra quẻ Bĩ? Nhưng không biết rằng: Nếu bàn về việc vạch quẻ của Phục Hy thì sáu tư quẻ đủ trong một lúc, dẫu đến Kiền, Khôn cũng không có lẽ sinh ra các quẻ; còn nếu theo thuyết của Văn Vương, Khổng Tử thì dọc, ngang, cong, thẳng, sinh đi, sinh lại, thế nào không được? Cốt ở xem được hoạt bát, không câu nệ thì không cái gì không thông67.

67 Hồ Song Hồ nói rằng: Số quẻ biến đổi của bài Bản Nghĩa trong Thoán Từ đã thích có mười chín quẻ. Tụng, Thái, Bĩ, Tùy, Cổ, Phệ Hạp, Bí, Vô Vọng, Đại Súc, Hàm, Hằng, Tấn, Khuê, Kiến, Giải, Thăng, Đỉnh, Tiệm, Hoán mà thôi. Và lại những quẻ đã thích, trừ ra hai quẻ Tụng, Tấn giống như hình vẽ, còn các quẻ khác đều không hợp cả. Ví như quẻ Tùy vốn từ các quẻ Khốn và Phệ Hạp, Ký Tế, Vị Tế đi lại, mà theo hình vẽ thì nó lại từ hai quẻ Bĩ, Thái đi lại, v.v. Là vì hình vẽ tùy theo Thoán Truyện làm ra, mà sự các quẻ biến đổi, thì không cách nào không thông, không thể câu chấp bằng sự nhất định. Từng xét về sự biến đổi trong hình vẽ này đều do hai quẻ sinh ra. Phàm những hào