Thư viện › Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo
Cách lạy
Bản in 1936, trang 5
Chấp hai tay lạy như cách dưới đây:
Tay trái bắt ấn tý (1), rồi nắm lại. Kế đó, bàn tay mặt áp ngoài, rồi ngón cái (tay mặt) xỏ vô giữa ngón cái và ngón trỏ bên tay trái.
Để hai tay như vậy mà đưa lên trán, xá sâu ba xá, rồi quì xuống đưa hai tay lên trán như trước mà niệm « Nam-mô-Phật »; đưa qua bên trái niệm « Nam-mô-Pháp »; đưa qua bên mặt niệm « Nam-mô-Tăng », rồi để ngay ngực mà niệm « NAM-MÔ CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI-BỒ-TÁT MA-HA-TÁT (gật đầu).
« NAM-MÔ QUANG-THẾ-ÂM BỒ-TÁT MA-HA-TÁT,
« NAM-MÔ LÝ ĐẠI-TIÊN-TRƯỞNG KIÊM GIÁO-TÔNG Đ. Đ. T. K. P. Đ.
« NAM-MÔ HIỆP-THIÊN ĐẠI-ĐẾ QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN ».
« NAM-MÔ CHƯ PHẬT, CHƯ TIÊN, CHƯ THÁNH, CHƯ THẦN ».
Mỗi lần lạy Trời thì lạy một lạy gật đầu 4 cái, làm như vậy cho đủ ba lạy là 12 gật (nhớ mỗi gật phải niệm « NAM MÔ CAO-ĐÀI…… »
Còn lạy Phật và Tiên thì ba lạy mỗi lạy gật đầu 3 cái là 9 gật.
Khi lạy thì 2 bàn tay trải ra và 2 ngón cái phải gác tréo nhau.
(1) Bắt ấn tý nghĩa là: bấm đầu ngón tay cái vào gốc ngón áp út.