Thư viện › Thánh Đức Chơn Kinh
21. KHUYẾN NỮ TU
THI:
ĐÀO thơ, thơ thới nở thu đương, LƯ động quê xưa nghĩ chạnh thương, THÁNH Đức cả kêu đời tỉnh giấc, MẪU nghi khuyến giáo Đạo trinh tường.
Mừng chư hiền nam nữ. Khá tiếp giá MẪU HOÀNG.
(Tiếp điển)
DIÊU TRÌ KIM MẪU
Các con nghe:
BÀI:
Kìa Diêu Điện cảnh trời thanh bạch, Nhìn thấy con mắc vách khổ nguy, Nhặt thưa ác luyện đưa thì, Bợn nhơ thế tục quản gì linh quang.
Vì con trẻ chứa chan dạ Mẹ, Tuy là không sanh đẻ, dưỡng nuôi, Chớ tình mẫu tử chi nguôi, Sanh hồn dạy dỗ ngậm ngùi với con.
Kể từ thuở trẻ còn nhỏ nhặn, Mẹ hằng lo cho đặng khôn ngoan, Ngày đêm dạy dỗ buộc ràng, Quyết cho con trẻ vẹn toàn thân sanh.
Lấy âm dương tạo thành hồn trẻ, Cậy anh linh chỉ vẽ đủ điều, Tình thương con mẹ dấu yêu, Đêm khuya giáng thế dắt dìu con thương.
Hôm nay đàn tỏ tường THÁNH ĐỨC, Vì thấy con hiệp sức lo lường, Thanh tâm Từ Mẫu giáo trường, Để lời chỉ bảo tận tường cùng con.
Đường đạo đức lo tròn hưởng phước, Tình chị em sau trước nương tình, Nẻo đường khổ nạn đao binh, Khác chi cá chậu khó chinh ra vòng.
Đời xem kỹ long đong lắm bấy, Đạo xét cùng càng thấy cao thâm, Máy linh con trẻ tay cầm, Đường dài rán chí học tầm chớ xao.
Tuy là gái thấp cao có bực, Phận liễu bồ nhược chất hồng nhan, Biết thân chớ nệ nhọc nhằn, Rán lo cho kịp Đạo hoằng hóa khai.
Rủi sanh phận nữ hài khó nhọc, Biết đâu là nương vóc cho yên, Lấy tình để kết làm duyên, Gởi trăm năm phận cầu nguyền đặng vui.
May đặng phước khỏi ngùi ngùi dạ, Rủi phận con ngộ họa phải cam, Cánh bèo ra giữa nước vàm, Tẻ ra bốn ngã chia làm sao xong.
Nên lời tục: đục trong phải chịu, Có tiếng rằng: chí hiếu là nên, May duyên gặp hội Đạo truyền, Tình em nghĩa chị chung thuyền qua sông.
Hoa man mác trôi dòng nước vận, Biết đâu là an phận nửa giờ, Biết đâu trăm tuổi khó chờ, Hay đành vắng bóng tình cờ đó con.
Đường Đạo biết rán bòn âm chất, Phước được nên nhớ thật lòng lo, Thiên ân phận lãnh vai trò, Gắng công báo đáp đặng cho đẹp mày.
Rồi Mẹ chuyển Minh Đài hiệp mặt, Cùng Tam Giang dìu dắt lẫn nhau, Long Vân Hội đã trổi màu, Nữ tài khuyên trẻ rán trau nên tài.
Dụng nữ trí sánh vai nam tử, Lấy hồng nhan chuyên chú Thiên cơ, Non sông cõi Việt định giờ, Nữ trung con trẻ cũng nhờ phước duyên.
Thấy thế sự đảo huyền mà chạnh, Xem cơ đời tranh cạnh mà đau, Bớ con phận gái thấp cao, Nửa thân bèo dạt một màu hoa trôi.
Sớm muộn phải sóng dồi dập liễu, Chiều mơi rồi có hiểu mất còn, Ngọn đèn trước gió thon von, Tỏ lờ còn mất, mất còn biết đâu.
Nỗi cuộc thế tang dâu biến đổi, Cuộc nạn tai nhiều lối khổ sầu, Thấy con Mẹ rất lo âu, Thương con nên phải giáng cơ dạy bày.
Cung Diêu Điện đêm ngày trông đợi, Đợi các con gắng gợi lòng tu, Tu sao vận tải long phù, Nữ trung oanh liệt ngàn thu còn truyền.
Bớ các con nghe khuyên để dạ, Rán lập công bồi quả cho rồi, Ngày sau đặng trở về ngôi, Mẹ con sum hiệp đứng ngồi xuê xang.
Nơi địa phủ có đàng đừng xuống, Thấy công danh chớ chuộng mà nguy, Ma vương nó cứ lôi trì, Làm cho con mẹ chăng gì gặp nhau.
Bớ nữ phái lo trau bổn phận, Nầy con ôi chớ bận lòng vàng, Canh khuya lần bước đến đàn, Tiếng gà gáy rộ nhộn nhàng ngoài hiên.
Lời châu ngọc đem truyền cứu thế, Tiếng quí mầu phổ tế vạn dân, Cả kêu con trẻ biết thân, Sống còn phận gái muôn phần ra chi.
Đời người phải lỗi nghì với Đạo, Nhơn tình xuôi khổ não cùng thân, Đã cho là kiếp phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Thân đã định, định vào gánh nợ, Nợ xưa nay, vay sợ lâm nguy, Hễ là có trí xét suy, Lấy đào hoa đổi kịp thì khổ thân.
Sanh vào cuộc phù vân khổ nạn, Đứng trong vòng muôn vạn tai ương, Thì sao lánh khổ đoạn trường, Đã thưa thớt liễu lại nhường thuyền quyên.
Đời nhiều lúc đeo phiền cho trí, Cơn rảnh rang suy nghĩ thêm buồn, Nỗi con phận mỏng cánh chuồn, Ra vui chưa phỉ, vào buồn tủi thân.
Nhìn trăng gợi muôn phần đau dạ, Nghe quyên than buồn bã nhớ ai, Dường như nhớ kiếp đọa đày, Nhớ nơi kỳ ngộ, nhớ ngày Thiên cung.
Gió đưa lá thẳng dùn ngoài ngõ, Gầm ghì trời tiếng vọ bên tai, Ngậm ngùi nửa tỉnh nửa say, Tưởng cho thân đã lạc loài về đâu.
Xét cuộc thế dãi dầu cay đắng, Nghĩ của tiền cũng chẳng ra chi, Nếu thân gặp phải cơn nguy, Như mây đương nổi gió thì rã tan.
Hồi tưởng lại Đạo vàng vui thú, Rán tu hành ký chú mọi mùi, Thoát vòng lao khổ mới vui, Tu sao cho đặng tới lui Tiên đàng.
Quyển THÁNH ĐỨC rõ ràng máy nhiệm, Bớ các con rán kiếm lý mầu, Đừng lòng van vái khẩn cầu, Mà tâm hung ác tạo sầu kiếp tu.
Mẹ biết đặng lòng nhu của trẻ, Mẹ biết con quyết hé Thiên cơ, Nhưng chưa đành dứt trái duyên, Còn đeo đai nặng nỗi phiền nơi thân.
Không có chí vững vàng Đạo cả, Cứ đỏng đưa theo gã công danh, Ngồi trong cảnh Đạo tu hành, Mà lòng toan tính cạnh tranh đủ điều.
(… bản cũ thiếu câu bảy…) (… bản cũ thiếu câu bảy…) Đạo muốn cao, đời muốn yêu, Hai tay bắt cá biết xiêu bên nào. Vì vậy nên nữ hào mất hết, Bởi tại con chưa biết chánh đàng, Bớ con lận đận trần gian, Lóng nghe cho kỹ lời than Mẫu Từ.
Người thiệt tu tâm như đinh sắt, Chẳng bao giờ chịu mặt yếu thua, Ngày đêm suy nghĩ thẹn thùa, Cũng là nữ kiệt, lỡ mùa hay sao?
Khuyên các con giồi trau tâm tánh, Khá tu hành so sánh mà chi, Khoa tràng rán đến kỳ thi, Tranh tài đạo hạnh phân bì mới nên.
Các nữ sĩ rán bền tâm chí, Phải trau tria rõ lý cho thuần, Minh tâm kiến tánh cao siêu, Thánh kinh đức trọng noi chừng đường Tiên.
Khá giữ lấy lòng thiền tu niệm, Rán gìn tâm đặng tiến cao siêu, Mới mong giải thoát khổ nhiều, Vâng lời Tiên Thánh được nêu tên đề.
Chí liệt sĩ đề huề nương cậy, Dẫn dìu nhau học lấy Đạo vàng, Tinh thần nung nấu cho an, Chí thành cảm hứng khoa tràng mới nên.
Khuyên thế tỉnh rán lên thượng đảnh, Đặng Mẫu Nghi cám cảnh cho đời, Vì chưng liên lụy trần vơi, Phận quần thoa khỏi lụy đời độ thân.
Bởi nhi nữ hồng trần yếu đuối, Lòng vô minh lầm lủi đã đành, Kệ kinh khuya sớm học hành, Thượng thừa vững đạt thiện lành trau tâm.
Biết tu niệm thuốc thần ban rải, Giọt cam lồ cứu giải trầm kha, Tìm phương hiểu lý sâu xa, Diệu huyền đạo đức luận ra cội nguồn.
Chớ đừng dạ luông tuồng hơ hỏng, Vì thân còn mành mỏng yếu hèn, Cũng đừng tranh lấn trắng đen, Lòng cho trong sạch như đèn trời thu.
Khá hôm sớm ôn nhu kinh sám, Hoài bão nhau cho đám em khờ, Cút côi phận yếu liễu bồ, Rán tu một kiếp điểm tô đạo lành.
Luật Trời định cứu sanh linh thoát, Muốn cho an phát đạt tinh thần, Khuyên con biết trọng nghĩa nhơn, Giữ lòng sĩ liệt biết cần cần tu.
Xem ngôi báu trăng thu ánh giọi, Trong các con theo giỏi mau lên, Cảnh Tiên đợi kẻ tâm bền, Tu hành đúng mực đem lên ngôi vàng.
Con rán chí vững an học lấy, Gìn tâm thiền phải quấy biện rành, Lựa điều lánh đục tầm thanh, Cho tường manh mối đành rành mới hay.
Vậy mới gọi nữ tài liệt ái, Lòng hiền lương vận tải lương từ, Công bình một dạ chơn như, Đêm ngày huấn luyện từ từ mới cao.
Gió thu cảnh lao rao tạt đến, Kìa đò Tiên kề bến đợi ai, Ớ con hạnh đức trí tài, Rán mà làm bạn chương đoài thanh cao.
Thân mỏng mành khá trau thấu đáo, Triết lý sâu hoài bão chị em, Kìa gương DIỆU THIỆN khá xem, Tên còn rành rạnh như rèm trăng thanh.
Rán gỡ mối tơ mành hết rối, Đường Đạo Trời chớ thối từ nan, Nâu sồng nhượm lấy màu vàng, Thanh tâm tuyệt vọng huy hoàng sáng trưng.
Kinh THÁNH ĐỨC con bừng mắt dậy, Rán học hành sửa lấy tinh ba, Một lòng thoát khỏi ái hà, Hồng ân đượm tưới cỏ hoa tươi nhuần.
Bớ con ôi khá vưng lời Mẹ, Noi Thánh Kinh chỉ vẽ đường tu, Giáng đàn thừa lúc Trung Thu, Quyết tình chỉ lối vẹt mù cho con.
Kìa võ trụ nước non còn đó, Tình Mẹ con cho rõ thâm tình, Khuyên con lớn nhỏ giữ gìn, Giã con ở lại Thiên Đình Mẹ lui.