Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Thánh Đức Chơn Kinh

4. HỘI QUẦN TIÊN PHÊ CHUẨN

Thánh Đức Chơn Kinh · Ngọc Minh Đài — Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

KHƯƠNG thạnh đời yên Đạo hóa hoằng, THÁI bình nhơn vật đức thanh tăng, CÔNG minh THÁNH ĐỨC truyền chơn giáo, Giáng thế Phật Tiên rất nhọc nhằn.

Chào chư Thiên Ân. Nay là ngày Hội Quần Tiên, vậy chư vị phải nghiêm lễ đặng ta đi thỉnh các vị Đại Tiên, chẳng nên vô lễ. Chư vị tịnh đàn. Ta đi thỉnh CHUẨN ĐỀ ĐẠO NHƠN đến. (Tiếp điển)

Thi:

CHUẨN pháp linh căn đáo bổn nguyên, ĐỀ tâm chiếu diệu lộ chơn truyền, BỒ đoàn mạt ám kỳ minh giáo, TÁT sĩ lương tri đắc lịnh Thiên.

Bần Đạo mừng chư hiền sĩ.

Thi:

Bồ đoàn tịnh tọa trí thanh nhàn, Linh dược một bầu độ rỗi an, Giáng thế mừng pho Kinh THÁNH ĐỨC, Vui thay chuyển vận cõi dinh hoàn.

Bài:

Dinh hoàn lắm lúc đổi xây, Vui trong chút lát sum vầy tưởng hay. Nhìn cơ Đạo ái hoài ta thán, Chỉnh đời mê xem chán cho đời, Tỏ mù mây phủ trên khơi, Gió mà thổi mạnh thì rơi xuống liền.

Chỉ có Đạo thâm uyên tối trọng, Ngán cho lòng cứ vọng thấp cao, Màng chi chủng loại đồng bào, Kể chi những giọt máu đào rơi châu.

Thi:

Rơi châu chuyển máy độ con Hồng, Lụy thảm cho đời quyết thẳng xông, Đề bút một chương mừng THÁNH ĐỨC, Đạo truyền thoát khỏi chốn hồng trần.

(Tiếp điển)

Thi:

TIẾP độ chúng sanh đến cảnh nhàn, DẪN người đạo đức đến(1) Tiên bang, ĐẠO mầu tưới nhuận nơi trần thế, NHƠN nghĩa chi nao cuộc đá vàng.

Chào chư hiền sĩ.

Phú:

Cuộc đá vàng với cảnh đời tàn vương vấn,

Thảm bấy ôi! Nghĩ người đời khác nào Lữ Thấn phải linh đinh,

Nay mà hữu duyên gặp đặng mối Đạo huỳnh,

(1) Nguyên là "lánh" (bản in năm 1964), tức là "xa lánh"; chúng tôi hiệu chính là "đến".

Người thiện niệm mới tự biết mình là hữu phước.

Thi:

Sống thác xem trong cuộc đổi dời, Máy linh cơ Tạo thạnh an đời, Biết tu khuyên thế gìn ngôn Thánh, Hiểu Đạo cần lo học phép Trời.

Phú:

Trời chuyển Đạo cuối hạ nguơn hết lời hoài bão,

Truyền Chơn Kinh dạy thánh giáo để cứu nàn,

Cuộc biến thiên thế giái thấy chứa chan,

Cơ xáo lộn hồng trần thêm bi lụy,

Bớ khách tục gìn lòng chí khí,

Giữ Thiên cơ chung thỉ đặng vẹn tròn.

Thi:

Tròn Đạo thì thân mới đặng tròn, Chí thành xem rõ nước cùng non, Non phơi màu tuyết phân thanh bạch, Nước ửng hơi vàng trải dấu son, Tiếng hạc chiều thu lòng bận bịu, Hơi cầm bên suối dạ càng mòn, Thương đời quyết độ lên đường Đạo, Bao quản xa xuôi với héo hon.

Bần Đạo chào chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

ĐẠO đức trau tria đắc phỉ nguyền, HẠNH duyên thắm thía thỏa kỳ nguyên, THIÊN cơ từ bấy nào ai hản, TÔN pháp giao cho bực Thánh Tiên.

Bần Đạo chào chư hiền sĩ.

Thi:

Tiên truyền Đạo mạch kẻ hiền nhơn, Một bức đồ thư khá lóng đờn, Khoan nhặt tiếng khuya nghe thảnh thót, Phù trầm giọng sớm tỏ keo sơn, Tâm tình nung nấu hòa cam lộ, Trí tính thông minh luyện thuốc đơn, Như thử do hà khuynh đáo giác, Tùy cơ ứng dụng rõ nguồn cơn.

Bài:

Nguồn cơn rõ giọng đờn ai oán, Tiếng du dương mà thán cuộc đời, Thi cầm ca vịnh hôm mơi, Đêm ngày bể Bắc lưng vơi đã đành.

Mang nặng trịu chúng sanh phú thác, Nợ non sông rán hoạt động tình, Cho mầm thủy thổ nêu hình, Quốc vương ai khéo tạo thành ra đây.

Linh cơn pháp hội nầy cứu ngặt, Đờn vô dây thẻo thắt ngày đêm, Chí thành cảm ứng cung thềm, Phỉ nguyền sở đắc thể rèm đêm đông.

Ai là giống Lạc Hồng chủng loại, Ai là người biết phải há ngơ, Làm cho nhơn chúng mịt mờ, Bao chừng thoát khỏi cuộc cờ tang thương.

Thi:

Thương hải tang điền thấy thảm ghê, Thần sầu quỉ khóc lụy tràn trề, Bao chừng ráo lệ nhìn đau thảm, Mấy thuở ngưng châu khỏi ủ ê, THÁNH ĐỨC nhị pho qui thức diệp, CHƠN KINH sinh cửu đáo sơn khê, Giấc huỳnh lương mộng chiêu chương tánh, Khuyến thế an tâm lối não nề.

Vậy khá tiếp giá Đức NGUƠN THỈ THIÊN TÔN, ta ban ơn chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

NGUƠN hạ Đạo khai giáo chúng sanh, THỈ chung khuyên thế rán tu hành, THIÊN ân phận sự tròn lòng thiện, TÔN giáo ngàn thu tiếng để dành.

Chào chư hiền sĩ.

Thi:

Để dành Đạo vị bước về sau, Mừng cuộc đời tàn lại gặp CAO, Phật Thánh giáng cơ truyền THÁNH ĐỨC, Thần Tiên hạ bút dạy kinh đào,(2) Ngày Trời mưa nắng nguyền cho vẹn, Đêm đợi lòng nhơn hiệp trước sau, Thế sự một bầu tâm kỉnh Đạo, Thoát vòng mê tín mới là cao.

(2) Trái đào gợi liên tưởng tới tiệc đào tiên (yến bàn đào) của Đức Diêu Trì Kim Mẫu; cảnh Tiên cũng gọi là "đào nguyên". Vậy, tạm hiểu "kinh đào" là kinh dạy người tu hành để về cõi Tiên.

Bài:

Cao ban đắc lộc Thiên Đình, Giáng cơ Tiên Phật dạy Kinh độ đời. Ước sao thế sự nhớ lời, Tu hành học tập rạng ngời tiếng xa.

Hữu phần ngộ Đạo kỳ ba, Lánh thân khỏi biển ái hà mới nên. Cảnh Tiên còn tạc tuổi tên.

Có THÔNG THIÊN GIÁO CHỦ đến. Ta ban ơn chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

THÔNG thường giáo lý Đạo mầu vi, THIÊN chức vẹn xong chớ trễ kỳ, GIÁO khuyến tâm tu qui thống nhứt, CHỦ quyền tự trị đến tinh vi.

Bần Đạo mừng chư hiền sĩ.

Thi:

Ngán đời cho bấy giọt sầu chan, Nghĩ gẫm xót thương cõi mộng hoàng, Chung thỉ qui tùng cơ bổn thủ, Tam gia hội ngộ buổi đời an, Kinh luân dị lộ triều quang thức, Đáo để mộng hành cuộc thế gian, Chí sĩ hiền tài lòng mỏi đợi, Noi theo huấn giáo hội Tiên bàn.

Bài:

Tiên bàn chỉnh lập đào nguyên, Cuộc cờ phấn đấu cho yên quốc thời. Vì Đạo cả noi nơi(3) thán oán, Cuộc đao binh xem ngán cho lòng, Chợt nhìn hắc khí đao binh, Tấm lòng sôi nổi đinh ninh một lời.

Chí cương quyết chớ lơi tấc dạ, Chí mong thành nợ trả non sông, Mai sau lên cõi Tiên Bồng, An vui muôn thuở hồng trần có chi.

Thi:

Có chi sang cả nơi trần, Hưởng chút mùi hoa phải lụy thân, Chi bằng tu hành tầm tịnh thoát, Linh quang sản xuất đảnh Tiên chân.

Có HẢI TRIỀU THÁNH NHƠN đến. Ta ban ơn chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

HẢI đảo đò đưa được mấy tiền, TRIỀU dưng nước bích cứu đời yên, THÁNH Kinh một bổn xem càng quí, NHƠN thiện hiểu xa lý diệu huyền.

(3) Tạm hiểu là "theo nơi, tìm tới nơi" đau khổ mà cứu giúp.

Chào chư hiền sĩ.

Bài:

Diệu huyền tỏ cạn cao sâu, Phân rành lý Đạo nhiệm mầu cứu nhơn. Trí cảnh tỉnh tu hườn triết lý, Tâm siêu quần định trí lập tâm.

Có XÍCH MI LÃO TỔ đến, ta ban ơn chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

XÍCH thằng buộc trói nợ tiền căn, MI đóa trà thơm tiếng gọi rằng, LÃO giáo khuyên tu hành Chánh Đạo, TỔ sư chỉ giáo Đạo cao thăng.

Chào chư hiền sĩ.

Bài:

Cao thăng phận sự Đạo mầu, Học cho rõ lý cao sâu mới tường. Mặc khách tục con đường lận đận, Thương người tu lỡ vận than thầm, Biết rằng chơn lý cao thâm, Tu hành học Đạo mới cầm Thiên Cơ.

Đặng hồi sơ, Biết cuộc cờ, Gánh đồ thơ, Thơ truyền một bổn cho đời, Là KINH THÁNH ĐỨC khá mời khách xem.

Ta ban ơn chư hiền sĩ, có NAM CỰC TIÊN ÔNG đến. (Tiếp điển)

Thi:

NAM Việt nhỏ nhen gặp Đạo Trời, CỰC lòng Tiên Phật giáng truyền lời, TIÊN bang khuyên kẻ trần gian học, ÔNG chánh tu cầu khỏi nạn đời.

Phú:

Đời thảm trạng khiến nhơn tình chuyển thay nhiều hạng,

Mối huyền vi mấy kẻ hiểu tri, cầu cho hản sự linh thiêng,

Cũng vì ham ván bán thuyền, mà đến nỗi lỡ vận lỡ nguyền rồi chẳng bước yên trên bước Đạo,

KINH THÁNH ĐỨC cả kêu bớ khách trần gian mau cổi lòng mộng ảo,

Hội Quần Tiên chi giáo,

Bớ người đời khá biết lý Đạo huyền thâm,

Đức truyền tâm con quốc lặng than thầm,

Nhơn vớt kẻ còn luân trầm ngoài bến khổ.

Thi:

Khổ tiếng quốc than dưới mé triền, Quốc kêu cảnh tỉnh Đạo qui nguyên, Quốc sầu nhơn loại trong vòng khổ, Quốc thảm chúng sanh dưới đảo huyền, Quốc trách người sao lòng mến tục, Quốc khuyên kẻ rán học làm Tiên, Quốc ban THÁNH ĐỨC Kinh rành rạnh, Quốc chuyển tiếng sầu giọng não phiền.

Có ĐÔNG PHƯƠNG SÓC đến. Ta ban ơn chư hiền sĩ. (Tiếp điển)

Thi:

ĐÔNG nam ngộ Đạo đắc chơn truyền, PHƯƠNG chước Đạo Trời hội nhứt nguyền, LÃO ái vạn sanh cam phận khổ, TỔ dìu nhơn loại lánh tiền khiên.

Chào chư hiền sĩ.

Thi:

Hữu phước thay cho mối Đạo Trời, Kinh vàng truyền bá khắp năm nơi, Chơn ngôn Tiên Phật ban từ chữ, Thánh bút thần cơ dạy cạn lời, Cuộc thế nhộn nhàng lằn phi thị, Tuồng đời ấm lạnh nỗi mù khơi, Thiết tha trong cảnh u minh thế, Đặng gặp đèn soi ngõ sáng ngời.

Vui cho nhơn loại, mừng cho nhơn loại! Đến thời kỳ nầy là thời kỳ các tôn giáo đều mạt pháp, tu nhiều thành ít, mà đặng quyển THÁNH ĐỨC nhị kỳ chỉ tường chơn giáo thì còn chi quí bằng! Từ đây thế gian không tu bị sa địa ngục, hết kêu nài vì không Kinh sách nữa. Chư hiền thành tâm tiếp lịnh TÂY PHƯƠNG SÓC. (Tiếp điển)

Thi:

TÂY phương một cảnh quí ngàn thu, PHƯƠNG học Đạo mầu vẹn đức tu, SÓC kỷ Đơn Kinh truyền xuống thế, Ngự cơ THÁNH ĐỨC cạn lời nhu.

Chào chư hiền sĩ.

Thi:

Lời truyền thế sự biết cơ Trời, Nguơn hạ lo phương chuyển cuộc đời, Vạn loại đồng thoàn qua bỉ ngạn, Muôn dân đều bước đến ngoài khơi, Kẻ mê còn phải trong vòng khổ, Người tỉnh tu hành đặng thảnh thơi, THÁNH ĐỨC ban truyền cùng khắp chốn, Kỹ xem thoát khỏi chỗ lưng vơi.

Ta ban ơn chư hiền sĩ. Có LINH BỬU ĐẠI PHÁP SƯ đến. (Tiếp điển)

Thi:

LINH thiêng máy nhiệm với cơ Trời, BỬU đức chuyển mê sửa cuộc đời, ĐẠI Đạo Tam Kỳ qui vạn loại, PHÁP truyền chánh giáo độ năm nơi. SƯ tình đệ nghĩa duyên thành ngộ, Giáng thế khuyến tu đắc lộc Trời, Ngọc bích ngân ngân trau vẻ ngọc, Đài mây đang ngự buổi hôm mơi.

Mừng chư hiền sĩ.

Thi:

Ngoài cuộc trần ai mấy kẻ nhàn, Tiên Ông thong thả máy hành tàng, Thấy đời lận đận mà đau dạ, Xem thế khổ sầu cũng xót gan, Một bộ Kinh Trời nay giáng lập, Ngũ châu Quốc đạo đặng chiêu an, Thức thời đồng hưởng ân cam lộ, Biết trọng đức tin Thánh Đạo tràng.

(Giải thuyết) Cuộc thế đổi dời, cơ đời biến động, năm châu bốn bể đều bị ngọn sóng văn minh dồi dập dưới thế lực hữu hình nên mắc phải tam tai bát nạn. Cõi Á Đông xứ Nam Việt sớm gặp được Đạo Trời, đem giọt nước nhành dương cứu lửa binh vạn loại, truyền KINH THÁNH ĐỨC chỉ rõ Đạo mầu. Rất hân hạnh thay! Nếu chúng sanh kỉnh trọng tu hành thì ắt đặng siêu sanh thoát tục. Ta ban ơn chư hiền sĩ. Có CÙ LƯU TÔN giáng. (Tiếp điển)

Thi:

CÙ dậy biển đông sóng gió xao, LƯU truyền hậu thế tiếng hoa đào, TÔN lăng phép nhiệm dìu nhơn chúng, Giáng bút mừng pho THÁNH ĐỨC cao.

Bần Đạo mừng chư hiền sĩ.

Thi:

Lưu tồn vạn đại chuyển mê hồn, Pháp bửu tay cầm độ tử tôn, Chiêu lạc an khương câu chánh kỷ, Mộ người tài đức thoát Kiền Khôn, Thiên cơ dĩ định ai qua đặng, Luật pháp đành rành cửa Phật ngôn, Tế thế luân trầm đời mê mộng, Giải nguy cứu cấp được sinh tồn.

Bài:

Sinh tồn linh tánh an ninh, Độ mê trầm nịch Đạo Huỳnh noi theo. Lần qua vịnh xuống đèo chi nệ, Lướt truông mây nào kể thân hình, Chèo thoàn từ ái huỳnh minh, Thoát vòng khổ não non đình vui thay.

Dòm thế sự miệt mài lắm lúc, Chẳng biện phân un đúc tinh thần, Rán tâm nghiên cứu nền nhân, Thung dung tự toại đại đồng lý sâu.

Thi:

Lý sâu yếu nhiệm đoạt công đầu, Từng trải lắm phen chịu dãi dầu, Cay đắng chi sờn bền sức cả, Đau thương cho khách khắp năm châu.

Ban ơn chư hiền sĩ. Có LÝ THIÊN VƯƠNG ngự. (Tiếp điển)

Thi:

LÝ triết cao thâm đạo đức truyền, THIÊN thần tựu đảnh hội Quần Tiên, VƯƠNG trần lắm lúc tan rồi hiệp, Ngự bút tỏ phân bát nhã thuyền.

* * *

Thuyền từ cứu vớt chúng sanh linh, Biết Đạo khá lo thoát khổ hình, Đức cả một lòng hồi cựu vị, Công đầy mới đặng đến Thiên Đình. Chánh truyền Thánh Đức khuyên người tục, Chơn giáo chuyển mê dạy kẻ minh, Hữu chí hữu căn gần phước cả, Gắng tâm noi dấu Đạo Tiên Huỳnh.

(Giải thuyết)

Ta lấy làm hân hạnh cho chúng sanh tiếp đặng quyển thứ nhì.

Kinh THÁNH ĐỨC hội Quần Tiên đã đem phô diễn tất cả những ý tưởng của nhơn sanh và chỉ rõ mối Đạo tu hành, cao siêu thoát hóa.

Ta rất vui mà đặng dự hội Quần Tiên. Ta rất mừng cho chúng sanh và ước sao quyển THÁNH ĐỨC thứ nhì được mỗi mỗi đều tuân hành đặng cả, thì còn chi quý bằng! Nếu đặng như thế thì cảnh trần ai sau nầy sẽ hóa ra Tiên cảnh vậy. Ta ban ơn chư hiền sĩ.

Thăng.