Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Chu Dịch Thượng Kinh

Trang in 29–30

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Bây giờ thích vào chính văn của Kinh.

Kinh có thượng, hạ, 2 quyển, ở trước khi chưa có văn tự, thời chỉ có Quái hào. Sau khi đã có Quái hào rồi, mới có Kinh văn.

Vậy nên khi chưa thích vào Kinh văn, trước phải giải thích ba lí do này:

Một là: lí do sở dĩ có tám quẻ, và lại mỗi quẻ có ba hào.

Hai là: lí do sở dĩ mỗi quẻ thành ra có sáu hào.

Ba là: lí do sở dĩ có tám quẻ và sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào.

Lí do như thế này:

Nguyên lúc đầu Thánh Phục Hi thoạt thấy được lẽ Vũ trụ Tạo hóa, chỉ có nhất Âm nhất Dương. Vậy nên vạch làm một nét Cơ (lẻ), cũng là một nét ngang liền, tức là nét Dương; lại vạch ra một nét Ngẫu (chẵn), cũng là hai nét ngang đứt, tức là nét Âm.

Vạch xong hai nét rồi, lại thấy được ở trong Vũ trụ, phải có Thiên, Địa, Nhân mới đủ Tam tài mà cũng mới thành Vũ trụ. Vì muốn cho đủ Tam tài, thời phải có Âm có ba nét, Dương có ba nét.

Vạch xong hai quẻ ba nét ấy rồi, thời thấy được quẻ ba nét Thuần Dương là Càn, quẻ ba nét Thuần Âm là Khôn.

Khi vạch xong hai quẻ Càn, Khôn rồi, lại thấy được ở trong Vũ trụ chẳng bao giờ có Dương mà sinh, cũng chẳng bao giờ độc Âm mà thành. Nếu chỉ hai quẻ Thuần Dương, Thuần Âm mà thôi, thời không thể thành được Vũ trụ, nên phải vạch thêm sáu quẻ, tức là Dương giao dịch với Âm, thành ra Tốn, Li, Đoài; Âm giao dịch với Dương, thành ra Chấn, Khảm, Cấn. Sáu quẻ ấy cũng mỗi quẻ ba nét.

Vạch xong tám quẻ ba nét rồi, lại thấy được vạch dưới là Địa, vạch giữa là Nhân, vạch trên là Thiên. Ba vạch tức là tượng Tam tài, nhưng mà mỗi Tài, tất phải đủ nhất Âm, nhất Dương mới được.

Nếu chỉ quẻ ba nét mà thôi cũng không thể thành được Vũ trụ. Vậy nên mỗi nhất phải gia vào nhất thành lưỡng, tam, cái lưỡng thời thành lục. Bây giờ lấy tám quẻ mẹ, tức là quẻ nguyên đầu ba nét, mà mỗi mẹ gia vào tám con, thành bát bát lục thập tứ.

Sở dĩ toàn bộ Dịch có sáu mươi tư quẻ, ba trăm tám mươi tư hào.

Khi đã đủ mỗi quẻ sáu hào rồi, thời thấy hai hào đoạn dưới (hào sơ, hào nhị), là tài địa, hai hào đoạn giữa (tam, tứ) là tài nhân; hai hào đoạn trên (ngũ, thượng) là tài thiên, như thế thời Tam tài mới đủ, mà mỗi tài hai nét, tất có nhất Cơ, nhất Ngẫu.

Lệ như: Sơ là số Cơ, Nhị là số Ngẫu, Tam là số Cơ, Tứ là số Ngẫu, Ngũ là số Cơ, Thượng là số Ngẫu. Cơ tức là Dương số, là ngụ ý nhất Dương; Ngẫu tức là Âm số, là ngụ ý nhất Âm.

Vì mỗi quẻ có sáu hào, mà Tam tài mới định. Vạch xong quẻ sáu hào rồi mới chia ra: ba hào đoạn dưới làm Hạ quái, với Nội quái; ba hào đoạn trên làm Thượng quái, với Ngoại quái. Sở dĩ phải chia ra như thế, là vì Dịch lí bao bọc cả Thiên đạo và Nhân sự.

Nói về Thiên đạo tất phải có thỉ, có chung; nói về Nhân sự, tất phải có thượng, hạ, nội, ngoại. Vậy nên ở trong sáu hào, phải chia ba hào làm Hạ quái, và Nội quái; ba hào làm Thượng quái và Ngoại quái.

Các lí do trên ấy, quan hệ nhân sự cát hung rất nhiều.

Dịch lí sở dĩ tùy thì biến dịch cũng là vì thế.