Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Hệ Từ Thượng Truyện
Trang in 661–694
Chúng ta đọc Hệ từ thượng hạ truyện, trước hết phải biết hai danh nghĩa:
1) - Nghĩa chữ Hệ từ.
2) - Nghĩa chữ Truyện.
Nguyên Kinh văn là lời của Văn Vương, Chu Công, dính ở dưới mỗi quẻ mỗi hào, nên gọi bằng Hệ từ.
Đến như thiên này là Văn từ riêng của Khổng Tử, bàn tóm hết đại thể phàm lệ của toàn Kinh, nhưng không thể phụ vào ở dưới mỗi quẻ mỗi hào được, nên đặt riêng ra làm một bản, mà gọi bằng Truyện, Truyện là để chú thích ý nghĩa của Kinh.
Truyện lại chia ra hai thiên, gọi bằng Thượng truyện, Hạ truyện.
Từ đây sắp xuống là chính văn của Truyện.
CHƯƠNG THỨ NHẤT
(Chương này chia ra làm tám tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Thiên tôn, Địa ti, Càn Khôn định hĩ; ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ; động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hĩ; phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ; tại Thiên thành tượng, tại Địa thành hình, biến hóa hiện hĩ.
Tiết này chia làm năm câu dài. Càn, Khôn là quẻ Thuần Dương, Thuần Âm trong Dịch.
Nhưng tất thảy Quái, Hào thảy từ nhất Âm nhất Dương đẻ ra, nên chỉ nói Càn, Khôn đã bao bọc hết thảy.
Mà sở dĩ vạch ra được Càn, Khôn đó, thời xem vào đâu? Chỉ xem ở tượng trời cao đất thấp, mà Càn, Khôn định rồi, thấy trời cao thời định được Càn, thấy đất thấp thời định được Khôn.
Thiên địa là Càn, Khôn ở giữa không gian. Càn, Khôn lại là Thiên địa ở trong Dịch lí, vì theo ở mắt người ta mà trông vào Thiên địa, thấy được ti cao đã bày được rõ ràng, mà tự nhiên vị trí thuộc về Quái hào; Thượng thời quý, Hạ thời tiện; Dương thời quý, Âm thời tiện, cũng bày đặt được ngay.
Xem lên trời mà biết tính Dương thường hay động; xem xuống đất mà biết tính Âm thường hay tĩnh. Nhân Dương động mà sinh ra hào Cương; nhân Âm tĩnh mà sinh ra hào Nhu, hào có cương nhu mà quẻ cũng có cương nhu, nhân ở nơi tính chất động tĩnh, mà phân biệt đó vậy (Chữ Động tĩnh ở đây, chuyên chỉ bằng đức tính).
Hễ mỗi việc tất có mỗi lí, vì lí có phải có trái, nên loài nào nhóm vào loài ấy; hễ mỗi vật tất có mỗi hình, vì hình có khác nhau, nên bầy nào chia ra bầy ấy, tùy mỗi việc mà nhóm bằng loài, tùy mỗi vật mà chia theo bầy; nhân đó mà lời cát lời hung trong Dịch nảy ra khác nhau. (Phương, nghĩa là việc, cũng như chữ Phương pháp. Loại tụ, nghĩa là nhiều việc chung vào một lí. Quần phân, nghĩa là khác vật mà chia ra mỗi bầy).
Vì xem ở trời mà thấy được nhật nguyệt tinh thần, v.v... thành ra vô số tượng. Vì xem ở đất mà thấy được sơn xuyên động thực, v.v... thành ra vô số hình; nhân đó mà Quái hào trong Dịch, Âm biến ra Dương, Dương hóa ra Âm, cũng rõ ràng tất thảy.
Tượng hình, là biến hóa bất trắc của Thiên địa, biến hóa là tượng hình vô thường của Dịch lí.
Tiết thứ nhất, là nói Thánh nhân làm Dịch, không phải tự ý mình bày đặt ra, chỉ nhân lẽ tự nhiên của Tạo hóa mà vạch ra Quái hào.
Ông Trang Tử nói rằng: Dịch dĩ đạo Âm Dương chính là nghĩa ấy.
Thích tóm lại, Càn, Khôn nhân ở Thiên địa mà định ra, quý tiện nhân ở ty cao mà bày ra, cương nhu vì có động tĩnh mà đoán được, cát hung vì phương vật mà đặt nên lời. Biến hóa vì tượng hình mà thành nên dụng, thảy là nhân tự nhiên mà nảy ra đương nhiên, nên chúng ta chỉ xem ở không gian thời biết được Dịch.
TIẾT THỨ HAI
Thị cố, cương nhu tương ma, bát quái tương đãng.
Tiết này chia làm hai câu. Câu thứ nhất là nói lúc bắt đầu chưa vạch thành quẻ, chỉ có hai nét là vạch cương nhu mà thôi.
Một trồng với một mà thành hai, hai trồng với hai mà thành bốn, bốn trồng với bốn mà thành ra tám, sở dĩ thành ra Bát quái chỉ là cương nhu xát nhau mà thôi.
(Ma, nghĩa là xát, cũng nghĩa là giao nhau, tượng như hai bàn tay nhập lại mà mài xát với nhau). Vì cương nhu mài xát nhau mà thành ra được Bát quái. Mỗi một quẻ ba nét thời gọi bằng quẻ Trinh, lại lấy một quẻ Trinh đó mà lăn chuyển với nhau thành được tám quẻ Hối, nảy ra quẻ sáu nét, thành được sáu mươi tư quẻ. Trông thấy sáu mươi tư quẻ, nhưng chỉ tám quẻ luân chuyển với nhau mà thành vậy. (Đãng, nghĩa là luân chuyển).
TIẾT THỨ BA
Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử.
Tiết này chia làm bốn câu, Quái hào đã thành rồi, thời thấy được Tạo hóa có những gì, tất ở trong Dịch cũng có cả thảy, Chấn là lôi đình ở trong Dịch, Tốn là phong vũ ở trong Dịch, Khảm Ly là nhật nguyệt hàn thử ở trong Dịch.
Cổ động cho muôn vật thời lấy sấm sét nhuận thấm cho muôn vật thời lấy mưa gió. Mặt trời mặt trăng xoay vần đi hoài, mà trong một năm, thường có một tiết lạnh, một tiết nắng, thay đổi hoài hoài. Tiết này biến hóa là thuộc về tại thiên thành tượng.
TIẾT THỨ TƯ
Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ.
Vì có khí Dương là đạo Càn, mà thành được tất thảy loài trai; vì có khí Âm là đạo Khôn, mà thành được tất thảy loài gái.
Chữ Nam, Nữ đây vẫn đọc nam là trai, nữ là gái, nhưng không phải nói riêng về loài người mà thôi.
Hễ nhất thiết thuộc về loài dương như con trống, con đực, thảy gọi bằng nam, thảy là do Càn đạo mà thành.
Hễ nhất thiết thuộc về loài âm, như con mái con cái thảy gọi bằng nữ, thảy là do Khôn đạo mà thành. Chẳng những động vật mà thôi, hễ nhất thiết vật trong Vũ trụ, thảy căn bản ở Càn, Khôn mà thành ra.
Nhưng lại phải biết ở trong nam vẫn có khí Âm, mà ở trong nữ vẫn có khí Dương, Dương tàng ở trong Âm, Âm phục ở trong Dương, duy nam bẩm thụ về Dương phần nhiều, nữ bẩm thụ về Âm phần nhiều, khí chất vẫn có khác nhau, nên thành hình cũng có khác nhau. Vì thế mà nói rằng: Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ. Tiết này là nói biến hóa thành hình thuộc về Dịch lí.
Thích tóm lại, tiết thứ nhất là nói: Dịch lí trước khi chưa vạch quẻ, thời Tạo hóa vẫn đã sẵn có Dịch.
Thầy Thiệu có câu: Hoạch tiền nguyên hữu Dịch, nghĩa là: Trước khi vạch quẻ, vẫn đã có Dịch rồi, tức là ý nghĩa tiết thứ nhất. Tiết thứ nhì sắp xuống là nói khi làm xong Dịch, thời trong Dịch in như Tạo hóa.
TIẾT THỨ NĂM
Càn tri thái thỉ, Khôn tác thành vật.
Tiết này tiếp tiết thứ tư mà nói luôn công dụng của Càn, Khôn. Tiết trên đã nói công dụng riêng của Càn, Khôn, đây lại nói công dụng chung của Càn, Khôn. Hễ nhất thiết vật, giống gì cũng có cả Âm Dương. Vậy sau mới sinh thành được. Nhưng lẽ thường của Tạo hóa, công trời đất sinh vật chỉ là công cha mẹ đẻ con, tất thảy Dương trước mà Âm sau, Dương trao cho Âm đỡ, nên nói rằng: Khôn tác thành vật.
Thái thỉ, nghĩa là lúc đầu chưa thành hình; Tri, nghĩa là chủ tể trong việc ấy; Thành vật, là khi sau đã ngưng kết thành hình; Tác, nghĩa là làm cho xong việc ấy. Nghĩa chữ Tri đây, khác với nghĩa chữ Tri ở mọi nơi, có ý như nghĩa chữ Chủ, như ta thường nói: Tri phủ, tri huyện cũng là nghĩa ấy.
Thầy Thiệu nói rằng: Dương không thể một mình làm thành được, tất chờ có Âm mà sau mới thành. Vậy nên Dương phải lấy Âm làm nền.
Âm không thể tự mình mà hiển được, tất chờ có Dương mà sau mới hiển, nên Âm cậy Dương làm xướng. Dương làm chủ cho Âm mà hiển được thành công, Âm bắt chước theo Dương mà trọn được sự nghiệp.
TIẾT THỨ SÁU
Càn dĩ dị tri, Khôn dĩ giản năng.
Trên ấy đã nói công dụng của Càn, Khôn. Đây lại nói đức tính của Càn, Khôn. Chữ Tri đây cũng nghĩa như chữ Tri ở trên ấy; chữ Năng đây cũng nghĩa như chữ Tác ở trên ấy.
Càn vì có đức cương kiện mà lại động, nên lấy một cách dễ chóng mà tri được thái thỉ. Khôn vì có đức nhu thuận mà lại trịch, nên lấy một cách giản đơn mà tác thành được vật.
Dị, nghĩa là không tốn sức, bởi vì, những việc nhọc đã có Khôn đỡ sức, Càn chỉ vận dụng về phần khí. Vậy nên dễ dàng nói đến dị tri. Giản, nghĩa là không rối ren, bởi vì, thác thỉ tạo đoan, đã có Càn rồi, Khôn chỉ thừa thuận mà làm. Vậy nên, không gì phiền nhiễu, nên nói rằng: Giản năng.
TIẾT THỨ BẢY
Dị, tắc dị tri, giản, tắc dị tòng; dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công; hữu thân, tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại, khả cửu, tắc hiền nhân chi đức, khả đại, tắc hiền nhân chi nghiệp.
Tiết này chia làm tám câu. Tiết trên là nói giản dị về phần Càn, Khôn, đây lại nói người ta nên bắt chước lấy đạo Càn, Khôn. Bắt chước dị tri của Càn, mà xử thế bằng cách bình dị, thời tâm mình minh bạch mà người ta dễ biết, bắt chước giản năng của Khôn, mà xử sự bằng cách giản tiện, thời mọi việc lanh gọn, mà người ta dễ theo.
Chữ Dị trên tương đối với chữ Giản, chữ Dị dưới phản đối với chữ Nam. Vì có đức tính dị mà người dễ biết, thời nhiều kẻ đồng tâm với mình. Vậy nên có người thân. Vì có đức tính giản mà người dễ theo, thời nhiều người hợp sức với mình. Vậy nên có công việc. Vì đã hữu thân thời lòng mình, lòng người chuyên nhất, mà việc làm được lâu dài. Vì đã hữu công, thời thế lực phát triển đến ngoài, mà làm nên được việc lớn.
Hữu thỉ hữu chung mà khả cửu, thời thành được đức của Hiền nhân, tăng tiến hữu vi mà khả đại, thời thành được nghiệp của Hiền nhân.
Tiết này toàn tám câu, mỗi một câu là nhân quả tương sinh; dị giản là nhân, dị tri, dị tòng là quả; hữu thân, hữu công là kết quả của dị tri dị tòng; khả cửu, khả đại là kết quả của hữu thân hữu công.
Hiền nhân chi đức chi nghiệp, là tổng kết quả của mấy câu trên; mà tổng tạo nhân, thời chỉ có hai chữ "giản dị".
Dị là bắt chước đức Càn kiện, Giản là bắt chước đức Khôn thuận.
TIẾT THỨ TÁM
Dị giản, nhi thiên hạ chi lí đắc hĩ, thiên hạ chi lí đắc, nhi thành vị hồ kì trung hĩ.
Tiết này tiếp lấy tiết trên, mà nói rộng cho hết việc Thánh nhân. Tiết trên đã nói việc hiền nhân; bây giờ do việc hiền nhân mà tấn lên chính là đức "Dị" phối hợp với Càn, đức "Giản" phối hợp được Khôn; rất mực dị, mà chí thành bất tức, rất mực giản mà ứng vật vô tư. Thế là đạo lí trong thiên hạ đã hoàn toàn tâm đắc rồi.
Đạo lí trong thiên hạ đã hoàn toàn tâm đắc. Thế là Thánh nhân tức Thiên địa, Thiên địa tức Thánh nhân. Lúc bây giờ Thiên vị hồ thượng, Địa vị hồ hạ, Thánh nhân vị hồ trung.
Người đức cân ở giữa trời đất, mà trọn vẹn được đạo Tam tài vậy.
Trên ấy là chương thứ nhất, tiết đầu hết là nói thực thể của Tạo hóa; trung gian là nói thực thể của Quái hào, ba tiết sau là nói ở trong tâm người ta, có cả Thiên địa với Dịch lí, trông cho người ta thể nghiệm mà thực hành sẽ do hiền nhân mà làm đến Thánh nhân. Thánh nhân sở dĩ tác Dịch là vì thế.
Chữ Hiền nhân, Thánh nhân ở đây, là lấy câu Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ, mà nói chung cả nam nữ.
CHƯƠNG THỨ HAI
(Chương này chia làm bảy tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Thánh nhân thiết quái, quan tượng, hệ từ yên; nhi minh cát hung.
Tiết này nói về lời trong Kinh, Thánh nhân đặt ra quẻ. Xem ở Tượng quẻ, ở dưới Quái hào lại hệ vào từ, để cho tỏ rõ lẽ tốt, xấu.
TIẾT THỨ HAI
Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hóa.
Cương là Dương, nhu là Âm, Âm Dương đến khi vạch thành Quái hào thời là hữu hình, nên thường thường dời đẩy nhau, mà sinh ra biến hóa.
TIẾT THỨ BA
Thị cố, cát hung giả, đắc thất chi tượng dã, hối lẫn giả, ưu ngu chi tượng dã.
Vì Quái hào có biến hóa mà hình hiện ra Tượng. Vì hình hiện ra Tượng, Dịch mới nhân đó mà nảy ra từ, từ có cát hung là tượng thuộc về đắc thất. Do có tượng đắc mà sinh ra cát, do có tượng thất mà sinh ra hung. Từ lại có hối, lẫn, là tượng thuộc về ưu ngu, ưu ngu tuy chưa đến nỗi hung, nhưng cũng chẳng phải cát. Nếu biết hối thời chuyển hung làm cát, không biết hối thời tất mắc lấy lẫn, lẫn thời cát xoay ra hung.
Hai chữ Ưu ngu có hai nghĩa: Ưu, là lo lắng trong lòng; Ngu, là e né ở phía ngoài. Ưu ngu là cơ quan sinh ra hối lẫn, lại là cơ quan sinh ra cát hung, bốn chữ đó tuần hoàn đắp đổi nhau, vì lẫn rồi tất nhiên hung, đã hung tất nhiên hối, biết hối lại xoay đến cát. Tiết này là dạy cho ta cách xem từ.
TIẾT THỨ TƯ
Biến hóa giả, tấn thối chi tượng dã, cương nhu giả, trú dạ chi tượng dã.
Nhu hóa ra cương, vì nhu thối cực mà tiến, cương biến ra nhu, vì cương tiến cực mà thối; cương thuộc về phần tích cực, nên nhu hóa làm cương là tiến lên, nhu thuộc về phần tiêu cực, nên cương biến ra nhu là thối lùi. Nên nói rằng: Biến hóa giả tấn thối chi tượng dã.
Cương nhu biến hóa ở Dịch lí thời chứng nghiệm vào đâu, rất rõ ràng là chứng nghiệm vào ngày đêm.
Về phần khí Âm dụng sự, là nhu là ban đêm, nhưng từ nửa đêm giờ Tý sắp đi, thời nhu hóa ra cương mà thành ban ngày; về phần khí Dương dụng sự, là cương là ban ngày, nhưng từ nửa ngày giờ Ngọ sắp đi, thời cương biến ra nhu mà thành ban đêm. Vậy nên nói rằng: Cương nhu giả trú dạ chi tượng dã.
TIẾT THỨ NĂM
Lục hào chi động, tam cực chi đạo dã.
Quẻ vạch đến sáu hào, thời mỗi quẻ thành ra sáu vị, hai vị ở đoạn dưới là Sơ, Nhị vi đại; hai vị ở đoạn giữa là Tam, Tứ vi nhân; hai vị ở đoạn trên là Ngũ, Thượng vi thiên.
Xem ở sáu hào, mà đủ biết lí tam tài (Thiên, Địa, Nhân).
Mỗi một tài đủ một lí thái cực. Cực, nghĩa là rất mực, lí của Thiên, Địa, Nhân, đến đây mới rất mực, nên gọi bằng Cực.
Sáu hào động mà biến hóa đó, chính là đạo của Tam cực vậy. Tam cực, nghĩa là chí lí của Tam tài.
TIẾT THỨ SÁU
Thị cố, quân tử sở cư nhi an giả, dịch chi tự dã; sở lạc chi ngoan giả, hào chi từ dã.
Dịch chi tự, nghĩa là quẻ ở trong Dịch rất có thứ tự.
Tỉ như: Thái qua Bĩ, Bác qua Phục, v. v... Vì xem ở quẻ trong Dịch mà biết được việc đời thứ tự an bài sẵn như thế. Quân tử sở dĩ tự xử mà an thích trong lòng.
Đến như hào từ thời cũng theo ở mỗi vì, mà sắp ra thứ tự. Tỉ như: sáu hào quẻ Càn, tiềm, hiện, dược, phi, rất có tầng thứ, v.v... Quân tử sở dĩ xem lời mỗi hào, mà lấy làm vui ở trong não, càng đọc càng ngậm ngửi không chán.
Lạc, là vui vì lí, Ngoạn, là say vì mùi.
TIẾT THỨ BẢY
Thị cố, quân tử, cư, tắc quan kì tượng, nhi ngoạn kì từ, động, tắc quan kì biến, nhi ngoạn kì chiêm; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lị.
Chữ Cư ở đây, với chữ Cư ở trên nghĩa khác nhau. Chữ Cư ở trên kiêm cả động tĩnh; chữ Cư ở đây tương đối với chữ Động.
Dịch có: Tượng với từ, là dạy cho ta học cách ở khi tĩnh; biến với chiêm, là dạy cho ta học cách ở khi động.
Vậy nên, quân tử ở khi vô sự mà tĩnh, thời xem ở tượng Dịch mà ngoạn ở từ Dịch. Khi hữu sự mà toan động, thời xem biến hóa ở Quái hào, mà ngoạn lấy lời chiêm quyết ở Quái hào.
Vì lúc cư, hay quan tượng ngoạn từ, nên tấn đức tu nghiệp ở thì cư, không bao giờ nghỉ. Vì lúc động hay quan biến ngoạn chiêm, nên tùy Thì ứng biến ở khi động không việc gì lầm. Cư, thời thuận với thiên lí; động, thời hợp với thiên tâm. Vì vậy, nên tự thiên hữu chi, cát vô bất lị.
Ba tiết này, nói những việc thuộc về quân tử học Dịch, đến như tiết thứ tư trở lên, chuyên nói về việc Thánh nhân tác Dịch.
CHƯƠNG THỨ BA
(Chương này chia ra làm năm tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Soán giả, ngôn hồ tượng giả dã; hào giả, ngôn hồ biến giả dã.
Soán là lời ở dưới quẻ mà vua Văn Vương làm ra cốt để chỉ rõ tình trạng của mọi quẻ.
Chữ Tượng rất khó giải nghĩa, chỉ ý là phảng phất như thế.
Vì Lí là vô hình, phải mướn Tượng là hữu hình, mà chứng minh cho dễ hiểu.
Lời Soán phải lấy Tượng mà thích nghĩa, như quẻ Khôn: Tẩn mã; quẻ Ly: Tẩn ngưu, v.v... chỉ là hình như giống ấy, mà kì thực không phải giống ấy. Nên xem Tượng phải nhận cho ra lí ở ngoài Tượng.
Phật gia có cách dạy bằng chỉ vật, truyền tâm, cũng là Lí thủ Tượng như Kinh Dịch.
Hào từ là lời ở dưới hào mà ông Chu Tông làm ra. Hào, nghĩa là trao đổi, đủ cả ý giao dịch, biến dịch.
Vì Âm Dương cương nhu có biến động luôn luôn, nên phải có hào từ mà chỉ bảo cho minh bạch. (Chữ Biến đây kiêm cả nghĩa chữ Hóa).
TIẾT THỨ HAI
Cát hung giả, ngôn hồ kì thất đắc dã, hối lẫn giả, ngôn hồ kì tiểu tì dã; vô cựu giả, thiện bổ quá dã.
Chữ "Cát", chữ "Hung", chữ "Hối", chữ "Lẫn", chữ "Vô cựu", ở trong Quái hào phần nhiều có những chữ ấy.
Bởi vì Nhân sự có thất, có đắc; thất thời hung, đắc thời cát, nên cát hung là nói về kết quả của thất đắc. Nhân sự còn đương khi cát hung chưa minh, là những việc lầm lỗi nhỏ mà đã nấp cái cơ cát hay hung, nên phải có lời "hối", "lẫn"; "Hối" là có cơ được cát, "Lẫn" là có cơ đến hung; chữ "Hối", "Lẫn" là nói những việc tì hà nhỏ đó vậy.
"Tiểu tì", nghĩa là vết nhỏ, cũng nghĩa là điều lỗi nhỏ. Đến như điều lầm lỗi lớn thời gọi bằng Cựu; Cựu tức là quá, biết cải quá thời tuy không được như người vô quá, nhưng mà đã chữa được lỗi rồi, cũng tức là vô quá. Nên trong lời Quái hào có chữ Vô cựu; Vô cựu, là thiện bổ quá đó vậy.
Bổ, nghĩa là vá; Quá, nghĩa là lầm lỗi, nhưng biết vá chữa lại cho hoàn toàn. Thế là Bổ quá.
TIẾT THỨ BA
Thị cố, liệt quý tiện giả, tồn hồ vị; tề tiểu đại giả, tồn hồ quái; biện cát hung dã, tồn hồ từ.
Đạo trời quý Dương tiện Âm, nên ở trong vị sáu hào, Dương hào Dương vị thời là quý, Âm hào Âm vị thời là tiện.
Vậy nên, bài liệt ra quý tiện, thời phải xem xét ở vị, Dương đại mà Âm tiểu, ở trong Quái tượng có Âm Dương, xem xét vào đó mà cân nhắc được tiểu đại. Đến như cát hung thời lấy gì mà phân biệt tất phải xem ở Quái từ, Hào từ; từ tốt là cát, từ xấu là hung.
(Tề, nghĩa là quyết định. Tỉ như: Quẻ Thái là Dương thịnh, thời nói rằng: Đại lai, quẻ Bĩ là Âm thịnh, thời nói rằng: Tiểu lai. Đó tức là tề tiểu đại).
TIẾT THỨ TƯ
Ưu hối lẫn giả tồn hồ giới; Chấn vô cựu giả, tồn hồ hối.
Trên ấy đã nói rằng: Hối lẫn là tiểu tì, nhưng biết lấy hối lẫn làm lo, tất phải; những người có trí khôn mà biết dự phòng ở lúc cát hung còn chưa rõ. Thế là ưu hối lẫn giả tồn hồ giới. Giới, nghĩa là giới hạn, là chốn ở trung gian thiện hay ác.
Trên ấy đã nói thiện bổ quá, tất nhờ ở nơi biết ăn năn mới biết vô cựu. Thế là Chấn vô cựu giả tồn hồ giới. Chấn, nghĩa là động, gặp việc lầm lỗi, mà có động cơ biết hối, gọi bằng Chấn.
TIẾT THỨ NĂM
Thị cố, quái hữu tiểu đại, từ hữu hiểm dị, từ dã giả, các chỉ kì sở chi.
Hễ quẻ ở trong Dịch, thuộc về những quẻ Dương trưởng Âm tiêu, quân tử thịnh, tiểu nhân suy, ấy là quẻ tốt, mà gọi bằng Đại quái.
Thuộc về những quẻ Âm trưởng Dương tiêu, tiểu nhân thịnh, quân tử suy, ấy là quẻ xấu, mà gọi bằng Tiểu quái.
Quẻ đã có tiểu đại khác nhau như thế, thời lời trong quẻ cũng nhân đó mà có hiểm dị khác nhau. Quẻ tiểu, như quẻ Khuê, quẻ Khốn, quẻ Tiểu Quá, v.v... tất nhiên quẻ gay go khó hiểu, ấy là từ hiểm. Quẻ đại, như quẻ Thái, quẻ Đại Hữu, quẻ Phục, v.v... thời lời quẻ vui vẻ dễ xem, thế là từ dị. Vì Quái có tiểu đại khác nhau, nên từ cũng chỉ theo Thì với vị của Quái hào hướng về phía nào thời đặt ra lời ấy.
Sở chi, nghĩa là sở xu hướng, mà cũng là mục đích. Mục đích đi vào đường tốt, thời từ bình thản mà dị, mục đích đi vào đường xấu, thời từ gay go mà hiểm. Từ chỉ cốt chỉ vẽ lối đường ấy, khiến cho người ta biết theo lành tránh dữ mà thôi.
Toàn chương là thích thông lệ thuộc về Quái từ hào từ.
CHƯƠNG THỨ TƯ
(Chương này chia làm bốn tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Dịch, dữ Thiên địa chuẩn, cố năng di luân Thiên địa chi đạo.
Mấy chương trên đã phát minh nguyên lí làm ra Dịch, đến chương này mới nói hết nội dung của Dịch. Nhân vì, Thiên địa tức là Dịch, Dịch tức là Thiên địa, nên thông chương có bốn tiết, tiết nào cũng có góp cả Thiên địa với Dịch.
Tiết thứ nhất là thống quái nói nghĩa toàn bộ Dịch, những đạo lí ở trong Quái từ hào từ cân tày với đạo trời đất.
(Chuẩn, nghĩa là một mực thước, một khuôn khổ in như trời đất).
Vì thế, cho nên di luân được đạo của trời đất. (Di, nghĩa là khắp; Luân, nghĩa là sắp đặt sửa sang, nói cho kỹ thời như cách dệt tơ, chia cho ra sợi ngang sợi dọc, lại góp đường ngang đường dọc đi theo nhau).
Đạo trời thời phần nhiều thuộc về Dương, đạo đất thời phần nhiều thuộc về Âm. Dịch thời thống quát cả Âm Dương, mà khiến cho chung nhau thành công dụng. Thế là đạo trời đất vì có Dịch mới sửa sang chỉnh đốn được tất thảy, nên nói rằng: Di luân Thiên địa chi đạo.
TIẾT THỨ HAI
Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lí, thị cố tri u minh chi cố; nguyên thỉ phản chung, cố tri tử sanh chi thuyết: tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng.
Thích, nghĩa là tiết này phải chia làm ba đoạn. Nói tóm lại, chỉ cốt cho cùng lí.
Đoạn thứ nhất, cùng cứu nguyên lí u minh ở trong Vũ trụ.
Trong Vũ trụ nguyên có hai phần lí: một phần thuộc về u, một phần thuộc về minh; u thời kín đáo, lờ mờ mà không trông thấy, minh thời rõ ràng sáng láng mà dễ trông thấy.
Nhưng cớ vì sao mà u, vì sao mà minh? thời chứng nghiệm vào đâu mà biết được?
Thánh nhân ở trước khi làm Dịch, ngửa lên trên mà xem ở thiên văn, cúi xuống dưới mà xét ở địa lí, thời biết rằng: Bao nhiêu tác dụng về phần khí, thời không hình tích rõ ràng mà thành ra u; bao nhiêu tác dụng về phần hình thời có thực tích chứng nghiệm được mà thành ra minh. Những cái gì vì dương cương phần nhiều mà phát hiện ra, là cớ sở dĩ minh; những cái gì vì âm nhu phần nhiều mà thu lượm lại, là cớ sở dĩ u.
Đoạn thứ hai, là cùng cứu nguyên lí thuộc về phận sự.
Thuộc về Nhân sự rất khó phân giải là thuyết tử sinh.
Sinh ở đâu mà lại; tử ở đâu mà mất; chứng nghiệm vào gì mà biết được?
Nguyên lai, người ta sở dĩ sinh là vì ở lúc đầu có Âm Dương nhị khí hòa hợp, khí tụ mà hình thành, mới có sinh. Đến lúc cuối cùng, Dương tiêu Âm kiệt, nên khí tán mà hình cũng tán, mới có tử.
Bây giờ ta suy nguyên cho đến từ khi thỉ, thời biết được chung cũng thế thôi.
Lí thỉ, tức là lí sinh; lí chung tức là lí tử.
Tử sinh chỉ là chung thỉ tuần hoàn mà thôi. Vậy nên, nguyên thỉ phản chung mà biết được tử sinh chi thuyết.
Đoạn thứ ba, đến như lí thuộc về quỷ thần.
Quỷ thần có hay không? Tình trạng của quỷ thần có hay không? Vẫn khó nói quyết được.
Nhưng theo về Dịch lí, Âm Dương chi biến, Thiên địa chi đạo, thời quỷ thần vẫn có, quỷ thần chi tình trạng vẫn có.
Tuy nhiên, bảo rằng có, thời chứng nghiệm vào đâu mà biết được?
Theo như Dịch lí, Âm tinh Dương khí ngưng tụ lại mà thành ra chất hoạt động. Như thế là tình trạng thuộc về thần.
Hồn tan mà lên ở chốn không, phách tiêu mà biến làm chất khác. Đó là tình trạng thuộc về quỷ.
Chữ Quỷ thần ở đây, khác hẳn chữ Quỷ thần mà người thường hay nói. Thần, nghĩa là có tri năng hoạt động, cái đó nhờ tinh khí ngưng kết mà thành, nên tinh khí vi vật gọi bằng Thần. Quỷ, nghĩa là nhất khối tử vật, không tri năng hoạt động, khi linh hồn tiêu tán rồi thời như thế, nên du hồn vi biến, gọi bằng Quỷ (chữ Cố, dưới chữ U minh, nghĩa là lí do sở dĩ nhiên; Thuyết, chỉ là lời nói giải thích).
TIẾT THỨ BA
Dữ thiên địa tương tự, cố bất vi; trí chu hồ vạn vật nhi đạo tế thiên hạ, cố bất quá; bàng hành, nhi bất lưu; lạc thiên tri mệnh, cố bất ưu; an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái.
Tiết trên là nói về việc cùng lí, tiết này lại nói về việc tận tính.
Cùng lí thuộc về phần trí, tận tính thuộc về phần hành. Trên ấy nói dữ Thiên địa chuẩn, là nói về Dịch, đây lại nói về Thánh nhân. Thánh nhân in giống như trời đất, trời đất với Thánh nhân nhất nhi nhị, nhị nhi nhất. Vậy nên Thánh nhân không việc gì trái với trời đất, mà trời đất cũng không cãi Thánh nhân. Nên nói rằng: Dữ Thiên địa tương tự, cố bất vi, (Chữ Tự cũng như nghĩa chữ Chuẩn).
Một câu ấy là trùm bọc cả mấy câu dưới này. Bây giờ mới lấy đức Trí đức Nhân mà nói cho tường việc tận tính.
Đức Trí của Thánh nhân soi xét khắp cả vạn vật, in như đức Trí của trời đất, đạo nhân của Thánh nhân, yêu giúp được cả thiên hạ, in như đạo nhân của trời đất.
Vì đức Trí đã đầy đủ, mà đạo nhân lại hoàn toàn, nên việc gì cũng đúng với đạo trung. Đức Trí của Thánh nhân, chẳng những thuộc về phần Kinh mà thôi, lại hay đến cả phần Quyền. Ngộ việc gì nên hành quyền, tuy là đi thiên về một phía, cốt để ứng biến cho thông, nhưng hành quyền mà không mất chính, chẳng bao giờ lưu đãng vong phản. Câu ấy là thuộc về phần trí, mà bao bọc cả phần nhân.
Đạo nhân của Thánh nhân, chẳng những thấy ở lúc thường mà thôi, mà lại chứng được ở lúc biến, dầu gặp khi biến cố bất kì, người thường thời vẫn hay lo sợ, Thánh nhân chỉ thuận lí theo đạo, xử biến cũng in như thường, vui thích vì đạo trời, thông thấu được mệnh trời, vì thế mà trong lòng không gì lo ngại.
Chữ Lạc thiên ở đây, tức là: nhân giả bất ưu; chữ Trí mệnh ở đây, tức là chữ Tri thiên mệnh ở sách Luận Ngữ. (Câu ấy là thuộc về phần nhân, mà bao bọc cả phần trí).
Đức Trí với đạo nhân, hai bên tương thành, trí càng thâm thời nhân càng dày, chẳng vào đâu mà chẳng tự đắc, tùy ngộ nhi an, đạo nhân không bao giờ gián đoạn. Vì vậy, nên tấm lòng tế nhân lợi vật, đạt ư cực điểm, mà thực hành được nghĩa chữ Bác ái.
Tiết này chuyên nói về việc tận tính của Thánh nhân, nhưng tóm tắt lại chỉ có hai chữ Trí, Nhân. Trí, cực kì minh, nên giống được đức Trí của trời đất; Nhân, cực kì hậu, nên giống được đạo Nhân của trời đất.
TIẾT THỨ TƯ
Phạm vi Thiên địa chi hóa, nhi bất quá; khúc thành vạn vật, nhi bất duy; thông hồ trú dạ chi đạo, nhi tri; Cố thần vô phương, nhi dịch vô thể.
Trên ấy đã nói về sự cùng lí tận tính, đây lại nói về việc chí mệnh của Thánh nhân. Công việc tạo hóa của Thiên địa, vì rộng lớn không chừng, nên thường hay có chốn quá.
Tỉ như: Mùa đông thời quá ư hàn, mùa hạ thời quá ư nóng, núi có lúc quá ư cao, sông có lúc quá ư sâu, như những loài ấy, v.v... thường hay làm trở ngại cho đường sinh hoạt của người; Thánh nhân mới có khuôn phép, sẽ để tài thành phụ tướng công hóa của Thiên địa, bao nhiêu công dụng của Tạo hóa thu nạp vào trong khuôn khổ của Thánh nhân, mà không việc gì đến nỗi thái quá. Thế là phạm vi Thiên địa chi hóa, nhi bất quá.
(Chữ Phạm, tượng như đúc thành cái khuôn, không ra khỏi ngoài khuôn là gọi bằng Phạm; Vi, tượng như vậy bọc được tròn khít, không ra được khỏi ngoài vòng, gọi bằng Vi).
Loài vạn vật ở trong trời đất nhiều không biết chừng nào, muốn cho vật nào thành vật nấy, hình thành được hình, sắc thành được sắc, khí thành được khí, dụng thành được dụng, thiệt rất khó.
Thánh nhân vì có trí cách vật, có nhân nuôi vật, có lượng dung vật, có tài tạo vật, nên ủy khúc thành tựu được vạn vật, mà không sót một vật gì. Thế là: Khúc thành vạn vật nhi bất duy.
(Khúc thành, nghĩa là tùy phận lượng tính chất của nó, mà vắt nắn sửa sang cho nó, dụng công uốn nắn, mà không phải thẳng tay, gọi bằng Khúc).
Việc người đã xong, còn có việc quỷ thần; việc sinh đã xong, còn có việc tử hóa. Nhân với sinh tức là trú, quỷ với tử tức là dạ. Thánh nhân vì có trí thông minh thánh triết, thông thấu lí do thuộc về trú dạ, mà cái đạo nhân quỷ sinh tử, những gì là tự nhiên, những gì là đương nhiên, thảy biết hết. Thế là: Thông hồ trú dạ chi đạo, nhi tri. Công việc chí mệnh của Thánh nhân đã như trên nói; thời biết được.
Tri bằng cách huyền bí thần diệu như thế, nên không biết phương hướng mà tìm. Hành bằng cách biến dịch bất trắc như thế, nên không hình thể gì hạn lượng được.
Câu: Thần vô phương, nhi dịch vô thể, là tổng kết cả mấy tiết; ngó lại câu: Dịch dữ Thiên địa chuẩn ở đầu chương thấy được Thánh nhân tức Thiên địa, Thiên địa tức Thánh nhân.
Chữ Thần, chữ Dịch ở câu cuối nghĩa khác chữ Thần, chữ Dịch ở câu tiết trên.
Thần, nghĩa là tinh diệu; Dịch, nghĩa là biến hóa.
CHƯƠNG THỨ NĂM
(Chương này chia làm tám tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo.
Lưu hành ở trong Vũ trụ, chỉ có Âm Dương mà thôi.
Tỉ như: Trong một ngày, thời Trú là Dương, Dạ là Âm. Trong một tháng, nửa tháng trước là Dương, nửa tháng sau là Âm. Trong một năm, Xuân, Hạ là Dương, Thu, Đông là Âm. Lớn đến một vận hội thời thịnh thái là Dương, suy bĩ là Âm; nhỏ cho đến trong một thân, thời khí là Dương, huyết là Âm. Khi mắt trương là Dương, nhắm lại là Âm. Lại nhỏ cho đến một giống vật, khi động tác là Dương, khi nấp nép là Âm. Khi đương sống là Dương, khi đã chết là Âm.
Bao quát hết trong Vũ trụ, tất thảy cả không gian cho đến thì gian, không một chốn nào là không Âm Dương, lại không phút nào là không Âm Dương, chỉ thấy nhất Âm nhất Dương đắp đổi nhau mà thôi.
Những Âm Dương thuộc về phần khí và thuộc về phần hình, vẫn chưa gọi bằng đạo được, nhưng sở dĩ có khí, có hình mà thấy ra được nhất Âm nhất Dương. Đó là cái gì? Chỉ là lí tự nhiên. Vì lí tự nhiên, mà nảy ra sự đương nhiên, đó tức là đạo, nên nói rằng: Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo.
Bốn chữ nhất Âm nhất Dương có hai nghĩa: một nghĩa là Âm Dương tương đối là kể ngang, một nghĩa là Âm Dương đắp đổi nhau là kể dọc. Kể ngang thời phía này là nhất Âm, phía kia là nhất Dương. Như thế là Âm Dương tương đối, kể dọc thời nhất Âm rồi có nhất Dương, nhất Dương rồi có nhất Âm, như thế là Âm Dương đắp đổi vận hành. Đủ hai nghĩa ấy mới giảng đến ba chữ Chi vị đạo. Câu này diệu tại hai chữ nhất, nếu chỉ có Âm hay chỉ có Dương mà thôi thời không phải là đạo. Vì dùng hai chữ nhất cặp nhau mới thành ra nghĩa đối nhau và đắp đổi nhau, mới thấy được nhất Âm nhất Dương gọi bằng đạo.
Chữ đạo đây theo Dịch lí thời đạo là thái cực, tức là sở dĩ làm ra nhất Âm nhất Dương.
TIẾT THỨ HAI
Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã.
Vì lí nhất Âm nhất Dương đó, trời phú cho người ta, mà người ta thừa tiếp lấy, nguyên đầu chỉ là lành mà thôi. (Chữ Chi là thay chữ Đạo; chữ Giả là thay chữ Nhân).
Câu này chỉ nói về phần tiên thiên, chính là lúc bắt đầu phú dữ nguyên lí cho mình, nên mới nói được chữ Thiện. Đến lúc người ta đã thừa thụ nguyên lí ấy mà thành ra khí với hình mới sinh ra người, lúc bấy giờ là gọi bằng Tính.
Câu ấy nói cả tiên thiên hậu thiên, khi trước lúc chưa sinh là tiên thiên, khi sau lúc đã sinh là hậu thiên, gồm đủ cả tiên thiên, hậu thiên thành ra tính.
Chữ Tính lại dính với chữ Thiện, chữ Kế dính với chữ Đạo, Kế lấy Đạo nên gọi bằng Thiện, thành được Thiện nên gọi bằng Tính.
Sách Trung Dung có câu: Thiện mệnh chi vị tính, chữ Kế đây là kế với thiên mệnh, mà thiên mệnh thời căn bản ở nhất Âm nhất Dương mà sinh ra; đạo là mẹ, tính là con.
Xưa nay bàn đến chữ Tính, Mạnh Tử chủ trương tính thiện, Tuân Tử thời lại chủ trương tính ác, thầy Đổng Trọng Thư thời nói tính hữu tam phẩm, đến Dương Hùng lại nói tính thiện ác hỗn, chúng ta chiết trung bằng Dịch lí, thời như lời thầy Mạnh Tử có lẽ vô tệ.
TIẾT THỨ BA
Nhân giả kiến chi, vị chi nhân, tri giả kiến chi vị chi trí, bách tính nhật dụng nhi bất tri, cố quân tử chi đạo, tiễn hĩ.
Trên ấy nói đạo với tính, tính chỉ là một phần tử ở trong đạo, toàn thể đạo bao bọc rất lớn, mà công dụng đạo lại tinh vi rất mực, nên người ta biết hết được đạo là rất khó, chỉ duy tùy ở nơi bẩm thụ, ai bẩm thụ về phần dương động nhiều thời làm người nhân giả, ai bẩm thụ về phần âm tĩnh nhiều, thời làm người trí giả.
Vì bẩm thụ có khác nhau, nên óc nghĩ mắt thấy cũng không in nhau, nhân giả thấy là nhân, thời gọi đạo bằng nhân, tri giả thấy là trí, thời gọi đạo bằng trí.
Lại còn một hạng kém hơn nữa, vì bẩm thụ thuộc về khí chất, phần nhiều nói về nhân, họ cũng chẳng thấy ra nhân, nói về trí họ cũng chẳng thấy ra trí.
Vì vậy cho nên đạo của quân tử, thiệt ít người thể nhận cho được đó vậy.
Quân tử chi đạo tức là nhất Âm nhất Dương, đạo vô phân Âm Dương, mà lại đủ cả Âm Dương, bách tính bất tri đã đành. Nhưng nhân giả vì thiên về phần Dương nhiều mà chỉ thấy được nhân, tri giả vì thiên về phần Âm nhiều mà chỉ thấy được trí. Thế thời người biết được toàn thể đạo là ít, nên nói rằng Tiễn hĩ.
TIẾT THỨ TƯ
Hiển chư nhân, tàng chư dụng, cổ vạn vật, nhi bất dữ thánh nhân đồng ưu, thịnh đức đại nghiệp chí hĩ tai.
Trên ấy đã nói đạo, bây giờ lại lấy Thánh nhân với Thiên địa so đọ nhau, xem ở nơi sinh dục bởi những phần đức phát hiện ra, là gọi bằng Nhân, mà ai cũng thấy được. Đó là hiển chư nhân.
Dò không được cơ biến hóa, lường không được ý mầu nhiệm, muốn suy nghĩ những sự nghiệp ấy, mà không biết tìm vào đâu. Thế là Tàng chư dụng.
Nhân là đức ở trong, mà phát hiện ra ngoài, nên gọi bằng Hiển; Dụng là nghiệp ở ngoài mà thu liễm vào trong, nên gọi bằng Tàng. Hai câu ấy là Thiên địa Thánh nhân in nhau.
Duy Thiên địa thời tự nhiên vô tâm mà cổ động được vạn vật, Thánh nhân thời cốt vô vi mà thôi, nhưng phải có lòng ưu thì mẫn thế, không thể vô tâm như Thiên địa, chỉ chốn ấy là Thiên địa có khác với Thánh nhân, nên nói rằng: Cổ vạn vật nhi bất dữ Thánh nhân đồng ưu. Chữ Ưu đây có ý như "Đại bi" của nhà Phật, Thiên địa cổ vạn vật là xuất ư vô tâm, nên không đồng ưu với Thánh nhân.
Tuy nhiên, một phía thời vô tâm mà thành hóa, một phía thời vô vi mà thành công. Tổng chi, đức thịnh nghiệp lớn đều đạt ư cực điểm, nên lại hợp tán rằng: Thịnh đức đại nghiệp chí hĩ tai.
TIẾT THỨ NĂM
Phú hữu chi vị đại nghiệp, nhật tân chi vị thịnh đức.
Trên ấy nói Thiên địa Thánh nhân, đây nói gộp cả Dịch lí với Thiên địa Thánh nhân, rộng lớn mà không gì trật ra ngoài được, thế là phú hữu biết chừng nào; nên gọi bằng Đại nghiệp.
Càng ngày càng biến hóa nảy nở, lâu dài mà không bao giờ cùng, thế là nhật tân biết chừng nào, nên gọi bằng Thịnh đức.
Nói trái lại, không phải phú hữu, thời không gọi được Đại nghiệp; không phải nhật tân, thời không gọi được Thịnh đức.
Nói tóm lại, vì có phú hữu mới có vốn mà nhật tân được, vì có nhật tân mới có lời mà phú hữu được.
Đại nghiệp thịnh đức vẫn tiếp tục tương sinh, đức có thịnh thời nghiệp mới đại; nghiệp đã đại thời đức lại thịnh thêm, ý nghĩa hai câu vẫn nhất quán.
TIẾT THỨ SÁU
Sinh sinh chi vị Dịch.
Trên ấy đã nói Dịch lí, bây giờ lại nói gộp cả Dịch lí với Dịch thư.
Vì sao mà gọi bằng Dịch? Vì xem ở trong Vũ trụ, với ở trong Quái hào tượng biến, thấy dương sinh âm, thấy âm sinh dương, cương sinh nhu, nhu sinh cương, đắp đổi nảy nở hoài, không chốn nào cùng, cũng không chốn nào chết, có như thế mới gọi bằng Dịch.
Hai chữ Sinh sinh ý nghĩa rất nhiều, Sinh có nghĩa phản đối với Tử, nói rằng Sinh sinh là không bao giờ Tử.
Sinh lại có nghĩa liên tiếp với chữ Hóa, nói rằng Sinh sinh là hóa mãi mà không cùng; Sinh lại có nghĩa như chữ Sản, nói rằng Sinh sinh là sản xuất mãi mà không cùng.
Ông Lão Tử có nói rằng: Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, cũng một lẽ Sinh sinh chi vị Dịch.
Hai chữ Sinh sinh rất đúng với lí Dịch, mà cũng vì có Dịch mới hay Sinh sinh.
Nếu chỉ có một mà thôi, mà không biến Dịch thời lấy gì mà sinh. Nếu chỉ một lần sinh, mà không tiếp tục sinh nữa, thời cũng có đâu mà biến Dịch. Vậy nên chỉ năm chữ ấy, bao bọc hết thảy diệu lí Vũ trụ với Dịch.
TIẾT THỨ BẢY
Thành tượng chi vị Càn, hiệu pháp chi vị Khôn.
Dịch vẫn bao bọc hết lí Tạo hóa, nhưng ở trong lí Tạo hóa lại bao bọc vào trong Càn, Khôn. Thế nào là gọi bằng Càn? Là lúc bắt đầu chưa có vạn vật, mà khí Càn chủ động gây nên Tượng. Thế là gọi bằng Càn. Lại thế nào là gọi bằng Khôn? Khi vạn vật đã thành Tượng rồi, nhưng mà chưa thành được hình, Khôn mới thừa thuận lấy Càn, mà hiển trình ra các thức khuôn mẫu, làm cho vật nào vật nấy tất thảy thành hình. Thế là gọi bằng Khôn.
Xem ở Thành tượng thời biết đó là Càn suy, ở hiệu pháp thời biết đó là Khôn.
Nên nói rằng: Thành tượng chi vị Càn, hiệu pháp chi vị Khôn.
Tượng, nghĩa là đương mơ màng phảng phất tưởng tượng mà thôi. Tỉ như: Đứa con đương ở lúc phôi thai, gọi bằng Tượng.
Pháp, nghĩa là hình thức đầy đủ, khuôn khổ đã nhất định. Tỉ như: Đứa con đã đầy thai thành hình, mà xuất sản, gọi bằng Pháp.
Thành, nghĩa là mới gây tạo ra, không phải như nghĩa chữ Thành công.
Hiệu, nghĩa là trình bày cho người ta thấy, cũng in như nghĩa chữ Hiệu lực.
TIẾT THỨ TÁM
Âm Dương bất trắc, chi vị thần.
Diệu dụng ở trong Dịch tức là Thần, nhưng làm sao thời bảo rằng Thần? Trên ấy đã nói rằng: Thần vô phương là vì nhất Âm nhất Dương, biến hóa tác dụng, ở trong Âm mà vẫn có Dương, ở trong Dương mà vẫn có Âm, Âm Dương không nhất định về phương hướng nào. Thế là Âm Dương bất trắc. Vì vậy mà gọi bằng Thần.
CHƯƠNG THỨ SÁU
(Khuyết).
CHƯƠNG THỨ BẢY
(Chương này chia làm hai tiết).
TIẾT THỨ NHẤT
Tử viết, Dịch kì chí hĩ hồ; Phù Dịch, Thánh nhân sở dĩ sùng đức nhi quảng nghiệp dã; trí sùng lễ ti, sùng hiệu thiên, ti pháp địa.
Dịch thiệt cực điểm tinh diệu đó mà.
Nguyên lai, Dịch lí là Thánh nhân sở dĩ sùng cao được đức, mà rộng lớn được nghiệp đó vậy.
Trí đức thời rất cao, lễ nghi thời khiêm hạ, về phần cao đó là bắt chước theo trời, về phần ti đó là bắt chước theo đất.
TIẾT THỨ HAI
Thiên địa thiết vị, nhi Dịch hành hồ kì trung hĩ; thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn.
Thiên sùng Địa ti, thiết ra vị ở trên dưới, mà Dịch tức khắc có tác dụng ở trong ấy rồi.
Bởi vì Thiên địa chỉ là Âm Dương, mà Âm Dương biến hóa tức là Dịch, Dịch lưu hành ở giữa khoảng trời đất, người ta bẩm thụ được lí ấy, mà thành tính người, thành được tính rồi, lại in như Dịch lí mà Sinh sinh bất tức, như thế là thành tính tồn tồn. Vì có Sinh sinh mới hay tồn tồn; vì tồn tồn mãi mà tính người thành ra một cái cửa cho đạo nghĩa.
Đạo theo đó mà ra, nghĩa theo đó mà vào, nên nói rằng: Đạo nghĩa chi môn. Đạo, là lí vô hình; Nghĩa, là việc hữu hình. Lí ở trong mà việc ở ngoài, đem lí ra mà làm việc, nạp việc vào trong lí, tất phải ở chốn cửa, mà cửa tức là nơi thành tính.
CHƯƠNG THỨ TÁM
(Chỉ lược dịch bốn tiết 3, 4, 5, 6).
TIẾT THỨ BA
Ngôn thiên hạ chi chí trách, nhi bất khả ố dã; ngôn thiên hạ chi chí động, nhi bất khả loạn dã.
Trên ấy chỉ nói về Dịch lí, đây lại nói về sách Dịch, tức là chỉ vào Tượng, Quái, Hào ở trong Dịch. Trong từ Dịch vẫn nói hết thảy những việc rất tạp loạn ở trong thiên hạ, nhưng những việc tạp loạn đó, thảy thâu nạp vào trong Dịch lí, Dịch không thể ghét bỏ mà không nói. (Trách, nghĩa là tạp loạn). Và lại Quái từ, hào từ ở trong Dịch, nói hết thảy những việc rất biến động ở trong thiên hạ, cái việc biến động đó vẫn mỗi việc có mỗi đạo lí rất rõ ràng.
Trên dưới, trước sau, sắp đặt thảy có thứ tự. Dịch chẳng bao giờ sắp bày hỗn loạn. Thế là Ngôn thiên hạ chi chí động, nhi bất khả loạn dã.
Tòng lai, việc trong thiên hạ, hễ nói đến việc rất tạp loạn, thường xui cho người ta sinh chán ghét, duy Dịch thời nói Chí trách nhi bất khả ố. Hễ những việc rất biến động, thời thường khiến người ta phải rối lộn. Duy Dịch thời nói Chí động nhi bất khả loạn.
Dịch từ tinh diệu đến như thế, chúng ta học Dịch thời nên thế nào? Thời nên như ba câu ở tiết dưới.
TIẾT THỨ TƯ
Nghĩ chi nhi hậu ngôn, nghị chi nhi hậu động, nghĩ nghị dĩ thành kì biến hóa.
Chúng ta học Dịch đã thấy được lời Dịch nói, thời hễ một lời nói của chúng ta, tất trước phải cân nhắc ở lời Dịch, mà sau sẽ nói, thời lời mình nói không sai với Dịch lí.
Chúng ta thấy được hào động của Dịch, thời trước khi ta toan động làm việc, phải bàn bạc nghiên cứu về cách động của Dịch, mà sau sẽ động, thời việc mình động không sai với Dịch lí.
Nghĩ nghị như thế, nhất ngôn mà tất có nghĩ bằng Dịch, nhất động mà tất có nghị bằng Dịch, là cốt để cho thành những công việc biến hóa của đời mình. (Chữ Nghĩ: so sánh; chữ Nghị: bàn xét).
Tổng chi, là bắt chước theo Dịch. Chữ Biến hóa ở mấy chương trên là biến hóa thuộc về phần Dịch. Chữ Biến hóa ở đây, là biến hóa thuộc về phần ở người học Dịch. Vậy nên trích cử ra lệ bảy hào như sau này.
TIẾT THỨ NĂM
Cửu Nhị quẻ Trung Phu đã phụ trên hào từ rồi. Duy Cửu Ngũ quẻ Đồng Nhân dịch riêng ra đây, để cho hiểu một cách nghĩ nghị là như thế.
TIẾT THỨ SÁU
Đồng nhân, tiên hào đào nhi hậu tiếu; Tử viết, quân tử chi đạo, hoặc xuất, hoặc xử, hoặc mặc, hoặc ngữ, nhị nhân đồng tâm, kì lợi đoạn kim, đồng tâm chi ngôn, kì xú như lan.
Nguyên Cửu Ngũ quẻ Đồng Nhân, hào từ nói rằng: Đồng nhân, tiên hào đào nhi hậu tiếu.
Nguyên nghĩa là chỉ Cửu Ngũ với Lục Nhị trước bị trở cách mà sau lại ngộ hợp. Nhưng ở đây đức Khổng thích nghĩa lại lấy một nghĩa khác mà nói rằng: Cũng là đạo quân tử thảy, nhưng đạo lại cốt ở nơi tâm, mà không cần ở nơi tích. Tâm là tinh thần, mà tích là hình thức, tích đồng mà tâm dị, thế không phải là đạo quân tử tích dị mà tâm đồng mới là đạo quân tử. Vậy nên có kẻ ra làm việc đời, có kẻ ở an một chốn, có kẻ nín lặng mà làm thinh, có kẻ chuông mõ cảnh tỉnh người.
Theo phần hình thức mà nói, thời Xuất với Xử, Mặc với Ngữ, vẫn thảy khác nhau, nhưng cách khác nhau đó chỉ vì Thì với Vị có khác nhau mà thôi, còn đến như tâm sự của hai người in như nhau một hệt. Nếu đổi thay Thì với Vị của hai người, thời người kia tất cũng như người này; bởi vì hai người vẫn đồng một lòng.
Lòng đã đồng rồi, thời Xuất, Xử, Mặc, Ngữ khác nhau mặc dầu, mà lợi ích về đồng tâm mà được đó, kiên quyết không biết đến chừng nào, dầu có cả đoạn sắt chen ngăn cũng có thể cắt đứt được. Vả lại, những lời lẽ của người đồng tâm nhả ra mùi thơm tho đậm đà, thấm thía, dầu như bông lan, cũng chỉ thế mà thôi.
Đoạn kim, Xú lan là nói hiệu quả của Đồng tâm. Đồng tâm là lợi khí rất gớm ghê, dầu sự thế đến thế nào cũng không có thể ngăn đón được mà lại mùi lời nói của người đồng tâm chẳng ngọt ngào mà không bao giờ chán, chẳng não nùng mà người càng say. Nếu thiệt như thế, lẽ nào có trước hào đào mà sau mới tiếu rư?
Thích nghĩa hào như hệ từ đây, là kì diệu tuyệt, hào từ chỉ có chữ Hào đào, chữ Tiếu, tình hình có khác nhau. Thánh nhân nhân đó mà phát sinh ra nghĩa Xuất, Xử, Mặc, Ngữ khác nhau, quy kết lấy Đồng tâm để giải thích chữ Đồng nhân, khiến cho chúng ta biết, muốn làm sự nghiệp đồng tâm, nếu chỉ việc đồng mà tâm bất đồng, thời sự nghiệp đồng nhân chẳng bao giờ tới, e chỉ nghe hào đào mà không bao giờ tiếu.
Thánh nhân học Dịch theo lời cũ mà phát minh nghĩa mới là như thế. Nếu chúng ta chỉ keo gắn vào mặt chữ, mà không nảy ra được nghĩa mới, thời không phải là óc học Dịch.
Còn năm hào: Sơ Lục quẻ Đại Quá; Cửu Tam quẻ Khiêm; Thượng Cửu quẻ Càn; Sơ Cửu quẻ Tiết; Lục Tam quẻ Giải, thảy là phụ dịch vào trên Kinh văn rồi.
CHƯƠNG THỨ CHÍN
(Khuyết).
CHƯƠNG THỨ MƯỜI
(Lược dịch hai tiết).
TIẾT THỨ NĂM
Phù Dịch, thánh nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dã.
TIẾT THỨ SÁU
Duy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí; duy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ; duy thần dã, cố bất tật nhi tốc, bất thành nhi chí.
Hai tiết này tổng cộng bốn câu dài, nhưng cốt yếu chỉ có hai chữ: Thâm và Cơ. Nên nói rằng: Dịch là để làm gì? Là một thứ tài liệu của Thánh nhân sở dĩ cực thâm mà nghiên cơ.
(Thâm là diệu lí rất sâu kín, phản đối với chữ Thiển).
Đạo lí trong thiên hạ có tinh có thô, hễ tinh thời thâm, hễ thô thời thiển. Nếu không cực đến thâm, mà chỉ xem ở nơi thô thiển, thời nhân tình thế thái, hiểm hóc hơn sơn xuyên, biến huyễn hơn mây gió, chỉ những thô thiển, thời làm sao không thấu được tình ý của thiên hạ rư? Vậy nên, nói rằng: Duy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí. Thánh nhân có khi chân không ra khỏi cửa ngẫm nghĩ trong một phút đồng hồ, mà thông thấu hết cả tình trạng của nhân gian, khai thông được việc bế tắc cho thiên hạ, chỉ vì cực thâm mà thôi.
Chúng ta xem câu ấy thời biết được những hạng người thô thiển, chẳng làm sao thông được chí của thiên hạ. Đó là nói về phần cực thâm.
Đây lại nói về phần nghiên cơ, việc ở trong thiên hạ mênh mông như bể, tán loạn như mù, nhưng mà đắc thất cát hung, mỗi một việc gì tất có một trẫm triệu của việc ấy, khi đắc thất cát hung chưa giò ra mối, thời trẫm triệu tại rất lờ mờ, đó là gọi bằng Cơ.
Nghiên cho ra được Cơ, thời đắc thất cát hung có thể biết trước. Đã biết trước, thời việc gì cát với đắc thời ta làm, việc gì hung với thất thời ta tránh. Như thế, thời việc thiên hạ có gì thất bại nữa rư? Nên nói rằng: Duy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ.
Bởi vì, khi cơ họa chưa lộ, mà ta đã ngừa trước, cơ phúc chưa trình, mà ta đã rước trước, thành được vụ của thiên hạ chính là hiệu quả của hai chữ Nghiên cơ.
Chúng ta xem câu ấy, thời biết được muốn làm một việc gì, mà chờ đến lúc việc đã thấy rồi, thời việc đó chắc không thành.
Vậy nên, Cực thâm nghiên cơ, thực là diệu dụng của Thánh nhân, mà cũng là diệu dụng của Dịch.
Nhưng Dịch vì sao mà được như thế. Bởi vì, Dịch là Thần, duy có Thần mới biến hóa bất trắc, duy có Thần mới tác dụng vô cùng. Vậy nên, không thấy vội vàng hấp tấp mà tự nhiên lanh chóng không chờ bôn tẩu rối ren, mà tự nhiên đến nơi. Nên lại nói tóm một câu rằng: Duy thần giả, cố bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí. Tật, nghĩa là gấp nóng, lẽ thường vẫn có tật mới tốc, bây giờ lại nói rằng: Bất tật nhi tốc.
Tòng lai, sở dĩ tật, vì tại dục tốc, nhưng dục tốc thời lại bất đạt. Thánh nhân hiểu như thế, mà chúng ta cũng nhiều người hiểu như thế. Nhưng mà lối vì tật mà sinh ra chậm là tại sao? Là vì, tại chúng ta không cực được thâm, không nghiên được cơ, nên vội vàng lụp chụp, đến nỗi ngộ sự thất thì, càng muốn chóng, càng sinh ra chậm trễ; duy Thánh nhân cực được thâm, nghiên được cơ, nên thung dung mà ứng được cơ hội, lặng lẽ mà tìm được mối manh, tự mắt người thường xem, thời chỉ thấy bất tật nhưng càng bất tật bao nhiêu, thời lại tốc bấy nhiêu, đúng với thì giờ, nhằm với trình độ. Nếu những việc người khác tích lũy năm tháng mà không xong, Thánh nhân chỉ trong một giây phút mà kiến hiệu. Đó chẳng phải là bất tật nhi tốc hay sao.
Đã bất tật nhi tốc như thế, thời có khi một tờ giấy bay ra mà sấm vang bốn bể, một câu nói truyền xuống mà hưởng ứng khắp vạn phương, cần gì mình phải thân đi mà sau tới nơi rư? Đó lại là Bất hành nhi chí.
Được như ba câu trên ấy, mới gọi bằng thần. Thần là bản thể thâm cơ là tác dụng, cực thâm nghiên cơ là đạo nhân, thông chí, thành vụ là kết quả.
Bất tận nhi tốc, bất thành nhi chí, là chứng minh diệu dụng của thần. Chữ thần đây là chỉ vào Dịch với Thánh nhân, không phải thần là quỷ thần.
CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT
(Lược dịch ba tiết: 1, 2, 4).
TIẾT THỨ NHẤT
Tử viết, phù Dịch, hà vi giả dã, phù Dịch, khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ giả dã.
Sở dĩ có ra Dịch là để làm gì đó rư. Ôi! Sở dĩ có ra Dịch, là cốt mở mang trí chí cho loài người tạo thành muôn việc cho thiên hạ, trùm bọc hết đạo lí trong thiên hạ, chỉ có như thế mà thôi.
Tiết này chú trọng bốn chữ: Khai vật thành vụ. Thế nào là Khai vật thành vụ?
Đương lúc dân trí còn mong mỏi, dân chí còn uất tắc, Thánh nhân đem Dịch lí mà khải phát được trí dân, khai thông được chí dân. Thế là khai được vật rồi.
Dịch lí chẳng những khai vật mà thôi, dân trí đã khai, thời đưa vào đường lợi dụng hậu sinh càng ngày càng thất phát đạt. Dân chí đã thông, thời gặp những việc đỉnh tân cách cố, đụng đâu cũng thấy hanh thông, tất thảy những "vụ" ở trong thiên hạ, chẳng việc gì chẳng thành tựu. Đạo ở trong thiên hạ cũng chỉ quy nạp vào trong Dịch lí mà thôi, nên nói rằng: Mạo thiên hạ chi đạo.
TIẾT THỨ HAI
Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm, thối tàng ư mật; cát hung dữ dân đồng hoạn, thần dĩ tri lai, tri dĩ tàng vãng, kì thục năng dữ ư thử tai. Cổ chi thông minh duệ tri, thần võ nhi bất sát giả phù.
Tiết này tiếp lấy tiết trên mà nói, vì tinh lí của Dịch sâu xa như thế, diệu dụng của Dịch rộng lớn như thế, Thánh nhân nhân đó mà vận dụng lấy Dịch.
Đương khi vô sự mà tĩnh, thời mướn Dịch lí mà rửa bụi gợn trong lòng, nấp dấu những đạo lí hay ở chốn sâu kín; đụng đến khi hữu sự mà động, thời việc gì cát nên xu, Thánh nhân dắt cho thiên hạ xu, mà Thánh nhân dữ thiên hạ đồng kì lạc; việc gì hung nên tỵ, Thánh nhân chỉ cho thiên hạ tỵ, mà Thánh nhân dữ thiên hạ đồng kì ưu. Như thế là cát hung dữ dân đồng hoạn. Thánh nhân sở dĩ làm được như thế, há phải quyền mưu thuật số như những người tiểu trí tự ý đâu? Chỉ vì có đức thần minh mà biết được mọi việc ở tương lai. Lại vì có óc lại trí, mà dấu sẵn những gương ở dĩ vãng. Trí được lai, thời những việc chưa tới mà tính trước đã tinh tường rành rõi; tàng được vãng, thời việc đã qua, mà biến thông càng hợp lẽ. Đủ tất thảy toàn năng đại dụng như thế xưa nay có ai làm được rư? Chắc có một bậc người ở đời xưa, có đức Thông mà nghe gì cũng tỏ, có đức Minh mà thấy gì cũng tinh, có đức Duệ trí mà soi xét gì cũng tới nơi. Lại có đức đại dụng, dùng uy võ bằng một cách thần diệu, mà chẳng cần phải giết người. Có bậc người như thế, mới là Thánh nhân mà Dịch, Dịch mà Thánh nhân đó chứ.
Tiết này tinh diệu nhất là bốn chữ: Thần võ bất sát. Rằng Thần võ, thời dụng, mà chẳng phải là đua việc chiến tranh, rằng Bất sát thời nhân, nhưng chẳng phải là Nhân nhu cô tức. Bởi vì, tuy dùng việc võ, mà chỉ thấy là nhân ân, như vua Thang đem quân đánh Kiệt, mà dân nước Hạ xem bằng trời đại hạn mà gặp trận mưa phải thì, như thế, là việc võ của thần chẳng phải việc võ của người vậy.
Sở dĩ Bất sát là dùng nhân nghĩa mà làm uy hình, dầu có giết một người mà ức muôn người được sống. Như lời vua Thuấn có câu: Hình, Kì vu vô hình, nghĩa là: tuy thủ đoạn có lúc dụng hình nhưng mà mục đích thời cốt ở không dụng hình.
Ở trong lúc sát nhân, mà chỉ thấy tâm lí sinh nhân mà thôi, nên gọi bằng: Thần võ nhi bất sát.
Chúng ta nhận bốn chữ ấy, mà suy rộng ra mọi việc. Tỉ như: Làm quan mà không phải mục đích cầu danh; học Phật mà không cần đến kinh kệ; chính trị mà không cần đến pháp luật; học thuật mà không cần đến từ chương, v.v... thảy là có như ý Thần võ nhi bất sát.
TIẾT THỨ TƯ
Cáp hộ vị chi Khôn, tịch hộ vị chi Càn; nhất cáp nhất tịch vị chi biến; vãng lai bất cùng vị chi thông; hiện nãi vị chi tượng; hình nãi vị chi khí; chế nhi dụng chi vị chi pháp, lị dụng xuất nhập, dân hàm dụng chi, vị chi thần.
Nguyên lí ở trong Vũ trụ, từ vô thỉ đến vô chung, chỉ có nhất Âm nhất Dương mà gọi bằng Đạo, trước kia Truyện đã có câu: Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo.
Nhất Âm là gì? Là Khôn đạo.
Khi đạo Khôn dụng sự, thời vạn vật tất thảy hấp lấy khí Âm mà thu liễm thối tàng. Tượng như cái cửa mà đương lúc đóng khép, tất thảy muôn vật vào trong khí Âm, nên gọi bằng Khôn.
Nhất Dương là gì? Là Càn đạo.
Khi đạo Càn dụng sự, thời vạn vật tất thảy hô được khí Dương, mà phát sinh hoạt động. Tượng như cái cửa mà đương lúc mở ra đẩy tất thảy muôn vật ra giữa khí Dương. Thế là gọi bằng Càn.
Vì khí Âm, mà có khi khép, vì khí Dương mà có khi mở; một đường vừa khép, mà một đường liền mở ngay; một phía vừa mở, mà một phía liền khép lại; khép khép, mở mở thay đổi nhau hoài hoài, thế là gọi bằng Biến.
Nhất cáp vừa vãng, liền có nhất tịch lai; nhất tịch vừa vãng, liền có nhất cáp lai; vãng vãng, lai lai chẳng bao giờ cùng tận, thời gọi bằng Thông.
Lẽ biến thông như trên ấy, khi đã tỏ rõ ra ở nơi sự vật, chúng ta có thể phảng phất tưởng tượng mà thấy được. Thế là gọi bằng Tượng.
Sau khi đã thấy được tượng rồi, mô phỏng ở nơi tượng mà mỗi tượng nào thành mỗi hình ấy, đụng tròn mà nên tròn, đụng vuông mà nên vuông, cho đến dài vắn lớn nhỏ, rộng hẹp cao thấp, tất thảy mỗi hình, thành mỗi đồ thức, bây giờ mới gọi bằng Khí.
Khí chính là những giống hình nhi hạ, cũng có thể gọi là vật chất. Thánh nhân có óc khai vật thành vụ, mới chế tạo những khuôn mẫu của khí ấy mà làm đồ dùng cho người ta, ấy gọi bằng Pháp.
Nhân tượng mà nảy ra khí, lại tùy khí mà thành ra pháp, khi đã có khí, có pháp rồi, tất nhiên tiện lợi cho người ta dùng ở khi ra khi vào. Nhưng những loài khí dụng đó, há phải của riêng gì mỗi người một nhà đâu, thiệt là khí dụng chung của toàn loài người, mà tất thảy nhân dân, ai ai cũng dùng được nó, dầu không cánh mà bay khắp bốn phương, dầu không chân mà chạy khắp thiên hạ, khí dụng vạn năng đến như thế, mới gọi bằng Thần.
Tiết này khởi thủ hai chữ Càn, Khôn, quy kết lấy một chữ Thần. Càn, Khôn là nguyên thỉ của Thần, Thần là diệu dụng của Càn, Khôn. Vì có Càn, Khôn mà nảy ra cáp tịch. Vì cáp tịch mà nảy ra có biến thông; vì biến thông mà thấy được tượng hình; vì có tượng hình mà tạo ra được khí pháp; đã có khí pháp mới kết quả được lị dụng xuất nhập dân hàm dụng chi.
Đã lị dụng xuất nhập, mà lại dân hàm dụng chi, mới thiệt là Thần thánh đạt ư cực điểm.
Xem như khoa học ở ngày nay, tiềm đĩnh đi được ở dưới bể, phi thuyền bay được ở trên trời, luân thuyền khí xa dạo khắp cả thủy lục ở trên địa cầu, lị dụng xuất nhập chẳng gì rõ ràng hơn thế, bảo họ là thần thánh e cũng không phải quá đáng. Nhưng chỉ tiếc vì những khí dụng đó chỉ là làm lị ích cho đại tư bản, mà chưa bao giờ thấy được dân hàm dụng chi, công dụng chữ Thần té ra quá chật hẹp, trái với chữ Thần ở trong Dịch lắm.
CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI
(Chương này năm tiết khuyết, chỉ lược dịch hai tiết).
TIẾT THỨ TƯ
Hình nhi thượng giả, vị chi đạo, hình nhi hạ giả, vị chi khí; hóa nhi tài chi, vị chi biến, suy nhi hành chi, vị chi thông, cử nhi thố chi thiên hạ chi dân, vị chi sự nghiệp.
Tiết này chia làm năm câu dài, nói tóm lại chỉ có năm chữ: Đạo, Khí, Biến, Thông, Sự nghiệp.
Chữ Đạo, chữ Khí thuộc về phần tự nhiên; chữ Biến, chữ Thông thuộc về phần đương nhiên.
Nhân ở tự nhiên mà nảy ra đương nhiên, thời gọi bằng Sự nghiệp.
Nguyện thuộc về phần tự nhiên, vẫn không lấy gì phân biệt được. Nhưng ở trong nhất lí mà phải phân biệt ra hai danh: cái lí hình nhi thượng thời gọi bằng Đạo, công dụng hình nhi hạ thời gọi bằng Khí.
Đặt ra tên kêu, thời đạo với khí vẫn có khác nhau, nhưng trùm bọc vào trong một chữ hình thời lại in như nhau. Sở dĩ khác nhau, vì chữ Thượng, chữ Hạ, nghĩa là: tự khi đã có hình mà trở lên mãi, thời gọi bằng Đạo; tự khi đã có hình mà trở xuống mãi, thời gọi bằng Khí. Nói cho đúng, đạo là lí vô hình là vật hữu tượng, sở dĩ phân biệt nhau, là ở trước khi vô hình, có thể gọi bằng Tiên thiên, tức là đạo, ở sau khi hữu hình, có thể gọi bằng Hậu thiên, tức là Khí.
Thuộc về phần đạo, vẫn không hình tích gì thấy được, nên nói rằng: Hình nhi thượng giả vị chi đạo.
Thuộc về phần khí, thời đã có hình tích mà trông thấy rõ ràng, nên nói rằng: Hình như hạ giả vị chi khí.
Nhưng nói tóm lại, nhị danh mà gốc vẫn nhất lí, có đạo mới đẻ ra khí, có khí mới chứng được đạo, Thí dụ vào thân người ta, tai biết nghe, mắt biết thấy, miệng biết nói, đó là Khí, mà thuộc về sau khi hữu hình rồi. Nhưng tai vì sao mà hay nghe, mắt vì sao mà hay thấy, miệng vì sao mà hay nói. Tất có lí sở dĩ hay nghe, hay thấy, hay nói, lí sở dĩ đó mà không sao mà mô tả được. Đó chính là đạo mà đẻ ra khí. Vô luận việc gì vật gì tất trước có cái đạo, mà sau sinh ra vật ấy, việc ấy.
Nhưng đạo không phải là vật chết, cũng không phải giống nằm trơ hoài. Vì thế mà phải có danh bằng biến. Biến là làm sao? Là nhân ở đạo tự nhiên, tùy mỗi việc mỗi vật chế hóa mà cắt xén cho nó, khiến cho thành sắc thành hình, thành các công dụng; đó gọi bằng Biến. Nên nói rằng: Hóa nhi tài chi, vị chi biến.
Tỉ như: Chung một khí đó, nhưng có lúc phải đổi cũ làm mới, có lúc khuôn vuông phải làm ra tròn, ấy tức là Biến, mà biến đó, chính là tác dụng của Đạo.
Nhưng mà tác dụng của Đạo chẳng phải một lần biến mà rồi.
Lại thường nhân một việc này mà suy cho đến tất thảy việc khác; nhân một vật này mà suy cho đến tất thảy vật khác, khiến cho việc nào việc nấy cũng trơn chảy, vật nào vật nấy cũng hoàn thành; kết quả thời sự sự vật vật thảy là công dụng của đạo hữu hành khắp nơi, đó là Suy nhi hành chi, vị chi thông.
Chữ Suy dính với chữ Hóa, chữ Hành dính với chữ Tài, chữ Thông dính với chữ Biến; chữ Biến là thủ đoạn, chữ Thông là công hiệu. Muốn thông phải biến, có biến mới thông, mà rặt là tác dụng ở trong đạo.
Tỉ như: Hành ở nhất thân, suy ra đến nhất gia; hành ở nhất gia, lại suy đến nhất quốc; hành ở nhất quốc, lại suy rộng đến cả thiên hạ.
Khi đã suy rộng ra đến cả thiên hạ rồi, lại mới có danh bằng sự nghiệp. Nhưng mà sự nghiệp đó, há phải vay mượn ở ngoài đạo đâu, chẳng qua lấy ở đạo mà biến thông như trước kia, cất mà đặt vào người thiên hạ. Thế thời gọi bằng sự nghiệp mà thôi. Nên lại nói rằng: Cử nhi thố chi thiên hạ chi dân vị chi sự nghiệp.
Nói tóm lại, đạo là mẹ đẻ của sự nghiệp, sự nghiệp là con của đạo, nếu có đạo mà không phát triển làm sự nghiệp, thời đạo đó là đạo chết. Có sự nghiệp mà không căn bản ở đạo, thời sự nghiệp đó là sự nghiệp giả. Còn như nghĩa hai chữ Sự nghiệp, thời một giống mà vẫn có trước sau; Nghiệp chưa hoàn thành thời gọi bằng Sự; Sự đã kết thúc thời gọi bằng Nghiệp.
TIẾT THỨ BẢY
Hóa nhi tài chi, tồn hồ biến; suy nhi hành chi, tồn hồ thông; thần nhi minh chi, tồn hồ kì nhân; mặc nhi thành chi, bất ngôn nhi tín, tồn hồ đức hạnh.
Trên ấy đã nói diệu dụng của đạo, nhưng sở dĩ thấy được diệu dụng, thời cốt ở biến thông; mà sở dĩ biến, sở dĩ thông, vì sao mà biết được, vì xem ở nơi công việc làm nên biến thông. Vì hay hóa nhi tài chi, nên cách biến mới vô tận, vì hay suy nhi hành chi, nên cách thông mới bất cùng, nên lại nói tráo lại hai câu rằng. Lấy chữ Tồn hồ, đổi hai chữ Vị chi, nghĩa là cách biến thông, tùy đạo Dịch mà còn mãi mãi vậy.
Tuy nhiên diệu dụng của đạo vẫn hay như thế, do ở đạo mà đẻ ra khí, nhân có khí mà hay biến thông, nhân biến thông, mà có sự nghiệp. Thế là rất toàn, dụng rất lớn.
Nhưng há phải cậy công ở Quái, Hào, mướn sức ở Từ, Tượng mà được đâu. Sách không thể chép hết được lời, lời không thể miêu tả hết được ý, làm sao mà thấy được diệu dụng của Dịch đạo rư?
Than ôi! Đạo tất phải gửi ở người, nên lại có người mới gánh được đạo. Nếu chỉ câu nệ ở nét vạch, phụ họa ở nơi lời suông, thời Dịch lí chỉ ở nơi bộ sách, lấy đâu mà làm được biến thông cử thố nữa rư? Nên lại nói rằng: Thần nhi minh chi, tồn hồ kì nhân, nghĩa là: thiêng liêng mà sáng tỏ được đạo ấy cốt nhờ ở người.
Người đó là ai? Là người có đức hạnh. Đức hạnh thời nên như thế nào? Tinh thành thông với trời đất, nhân tri hợp với Thánh hiền, bắt chước được Càn mà dị tri, bắt chước được Khôn mà giản năng. Đức chứa ở trong lòng, mà không thấy được hình tích động tác.
Hạnh tu ở bản thân, mà không cần ở miệng lưỡi phô bày, im lặng mà thấy nên, chẳng nói mà người tin, đức hạnh được như thế, chính là hạng người thần nhi minh chi đó vậy.
Chương này là chương mười hai, ở cuối cùng hệ từ Thượng truyện, mà Thánh nhân kết thúc lấy hai câu: Tồn hồ kì nhân, tồn hồ đức hạnh.
Xem đó thời chúng ta muốn làm sự nghiệp Dịch, há phải đọc hết sáu mươi tư quẻ, xem hết lời Thượng, Hạ nhị Kinh, mà làm nổi công việc dụng Dịch hay sao?
Thầy Dương Thành Trai có nói rằng: Dịch có ba thứ: một là Dịch ở trời; hai là Dịch ở vở; ba là Dịch ở người.
Thiên tôn địa ty, Càn Khôn định hĩ, đó là Dịch ở trời.
Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý, đó là Dịch ở vở.
Tồn hồ kì nhân, tồn hồ đức hạnh, đó là Dịch ở người.
Chúng ta nếu tấn đức tu nghiệp được như Càn, hậu đức tái vật được như Khôn, thiện thiện cải quá được như Ích, trừng phẫn trất dục được như Tổn; tất có ngày bước tới địa vị Thánh nhân.
Lúc bây giờ mặc nhi thành chi, bất ngôn nhi tín, thời Dịch ở người tức là Dịch ở trời, mà Dịch ở trời tức là Dịch ở người. Những sự nghiệp đó chẳng cần phải tìm đến Dịch ở vở. Ý Thánh nhân lấy hai câu trên ấy, kết thúc Hệ từ Thượng truyện là hy vọng với người học Dịch biết chừng nào!!!