Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 14 — Hỏa Thiên Đại Hữu 大有
Trang in 196–203
Quẻ này là quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu. Càn hạ cũng là Nội Càn; Li thượng cũng là Ngoại Li. Li là Hỏa, Càn là Thiên. Nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Thiên Đại Hữu.
TỰ QUÁI
Tự quái: dữ nhân đồng giả, vật tất quy yên, cố thụ chi dĩ Đại Hữu.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đồng Nhân tiếp lấy quẻ Đại Hữu, là vì cớ sao?
Đồng Nhân là cộng đồng với người, đã làm nên những việc cộng đồng với tất thảy người, thời tất thảy người về với mình.
Vậy nên sau quẻ Đồng Nhân, tiếp lấy quẻ Đại Hữu. Đại Hữu, nghĩa là sở hữu rất lớn. Quẻ này Li, tượng là mặt trời, là lửa. Càn, tượng là trời, mặt trời với lửa ở tận trên trời, tia sáng đã tột mực cao, thời chói dọi cũng tột mực xa, là tượng Đại Hữu.
SOÁN TỪ
Đại Hữu nguyên hanh.
Lời quẻ chuyên thủ tượng bằng Thể quẻ, với Đức quẻ. Thể Càn thời có đức cương kiện, thể Li thời có đức văn minh. Vì có đức cương kiện hàm súc ở trong, lại có chất văn minh phát triển ở ngoài, cương kiện với văn minh gồm cả hai đức ấy, thuận với thì trời mà soi dọi với muôn vật, còn làm việc gì mà chẳng tốt lớn thông thuận nữa rư!
Đại Hữu mà được như thế tất nguyên hanh.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Đại Hữu, nhu đắc tôn vị, đại trung nhi thượng hạ ứng chi, viết Đại Hữu. Kì đức cương kiện, nhi văn minh, ứng hồ thiên nhi thì hành, thị dĩ nguyên hanh.
Soán viết: Đại Hữu, nhu đắc tôn vị, đại trung nhi thượng hạ ứng chi, viết Đại Hữu.
Đây là lấy thể quẻ thích nghĩa tên quẻ.
Xem cả sáu hào trong quẻ, hào Ngũ là hào âm nhu, ở vào vị chí tôn.
Ngũ, là vị trung, có đức trung ở vào thì Đại Hữu, thì đức trung ấy lớn lắm. Vì có đức đại trung như thế, nên trên dưới toàn năm hào Dương, tất thảy thuận ứng với Ngũ, nên đặt tên quẻ bằng Đại Hữu.
Đại Hữu có hai nghĩa: một là, bao nhiêu loài đại về mình cả thảy, đại, là chỉ vào Ngũ dương, một âm thống được năm dương, nên nói rằng Đại Hữu. Đó là nghĩa đặc biệt ở trong Kinh Dịch.
Lại một nghĩa là, sở hữu thiệt lớn. Vì ở sau lúc đã Đồng Nhân rồi, mà lại trên dưới thuận ứng với một vị đại trung, là sở hữu bằng một cách rất lớn. Đó là nghĩa thông thường ở trong Kinh Dịch.
Kì đức cương kiện, nhi văn minh, ứng hồ thiên nhi thì hành, thị dĩ nguyên hanh.
Đức quẻ: Nội Càn, là ở trong có đức cương kiện. Ngoại Li, là ở ngoài có đức văn minh. Lại Lục Ngũ ở trong quẻ, tượng là vị Nguyên thủ ở trong một nước, thuận ứng với Cửu Nhị là chủ Càn. Xem góp đức toàn quẻ như thế, chính là cương kiện nhi văn minh, ứng hồ thiên nhi thì hành.
Thì hành, nghĩa là đúng với Thì mà làm, vì thế mà được nguyên hanh.
PHỤ CHÚ: Nguyên hanh mà được kết quả tốt, nhân sở dĩ tạo nhân ra được nguyên hanh, thời nhờ có cương kiện văn minh mà chú trọng nhất là chữ Kiện, kiêm cả chữ Minh. Ông Tư Mã Quang có nói rằng: Kiện nhi bất minh, tắc tiền hữu sàm nhi bất kiến, hậu hữu tặc nhi bất tri. Minh nhi bất kiện, tắc tri thiện nhi bất năng cử, tri ác nhi bất năng khử dã.
Nghĩa là: Có đức Kiện mà không đức Minh, thời ở mặt trước có người sàm mà chẳng thấy, mặt sau có người tặc mà chẳng biết.
Sàm, nghĩa là người dèm pha.
Có đức Minh mà không đức Kiện, thời biết người kia lành mà chẳng hay cử lên, biết người kia ác mà chẳng hay trừ bỏ.
Thế là: Thiếu đức Minh, hoặc đức Kiện, thảy làm cái múi cho loạn vương, tất phải có đức Minh vừa đủ soi, có đức Kiện vừa đủ quyết, xử chẳng bao giờ thất trung, làm chẳng bao giờ thất thì, được như thế mới Đại Hữu nguyên hanh.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: hỏa tại thiên thượng, Đại Hữu, quân tử dĩ át ác dương thiện, thuận thiên (hưu) hữu mệnh.
Li Hỏa ở trên Càn Thiên, bao nhiêu loài vật, soi dọi được thấu cả. Thế là Đại Hữu.
Quân tử ở về thì Đại Hữu, đã bao bọc chất chứa được rộng lớn, thời phải có một phương pháp thống trị cho rất hay.
Nhưng vì ở trong lúc ấy, loài người có kẻ ác kẻ thiện, nếu chẳng phân biệt xử trí, tất đến nỗi thanh trọc hỗn hào, thị phi điên đảo, mà nghiệp Đại Hữu đó, trở lại gây nên cuộc đại loạn. Quân tử vì lo như thế, nên hễ người nào ác tuy chưa rõ, trước phải ngăn đón ngay, hễ người nào thiện còn uất ức gấp lo biểu dương ngay, làm như thế để thừa thuận mệnh tốt của trời.
Át: ngăn dứt; Dương: biểu bạch. Hưu: tốt.
Nguyên mệnh trời phú cho người, chỉ có thiện mà không ác, tuyệt loài ác, dương loài thiện, chính là thuận mệnh trời đó vậy.
PHỤ CHÚ: Tượng truyện hai quẻ Đồng Nhân, Đại Hữu tiếp với nhau, mà cũng thành cho nhau, khi chưa Đồng Nhân tất phải loại tộc, biện vật để phân biệt ra được thiện ác.
Khi đã phân biệt được thiện ác rồi, tất phải át ác dương thiện, mới làm nên được Đồng Nhân mà giữ gìn được Đại Hữu.
Nói tóm lại, loại, biện, là quy mô; át, dương là thủ đoạn, mà làm nên Đồng Nhân, Đại Hữu chính là mục đích. Muốn cho đạt được mục đích, tất phải có quy mô, thủ đoạn như hai Tượng truyện mới hay.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cựu, gian tắc vô cựu.
Ở về đầu thì Đại Hữu mà xử vào địa vị Sơ Cửu, tượng như con một nhà phú quý, mà còn đương ở vị ti thấp, chưa mấy ai xu phụ với mình, chưa làm nên những việc gì tai hại, đáng lẽ không việc gì tội lỗi. Nhưng đã chắc gì, hễ giàu là kho chứa oán, áo đẹp người chỉ trỏ càng nhiều.
Vậy nên xử vào cảnh thản thuận, càng nên căng trì khủng cụ, xem như xử lúc gian nan, thời mới chắc khỏi tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Hào từ dạy người lấy tâm lí mà chống với hoàn cảnh, theo về hoàn cảnh Sơ Cửu, bắt đầu ở vào buổi phú hữu, mà lại chưa dính vào việc đời, chỉ là một hạng người phú quý hưởng phúc, làm gì mà có tội lỗi. Đó là nói về hoàn cảnh, nên có chữ "Phỉ cựu".
Nhưng thường tình, đã quý thời hay sinh ra kiêu, đã phú thường hay sinh ra xỉ. Nếu quên gian nan chốc phút, thời họa loạn sinh ra ngay. Nên lại răn cho rằng: Gian tắc vô cựu. Thế mới biết: hoàn cảnh tốt, mà tâm lí xấu, thời chớ thấy tốt mà mừng, hoàn cảnh xấu mà tâm lí tốt, thời chớ thấy xấu mà sợ. Nghĩa là: Lấy tâm lí mà chống với hoàn cảnh, chớ để hoàn cảnh lừa gạt mình. Đó là thâm ý của hào từ này.
Tượng viết: Đại Hữu sơ cửu, vô giao hại dã.
Xem Tượng truyện hào này, thời biết được: Chúng ta sinh ở trong Vũ trụ, chẳng bao giờ tránh khỏi Thì với Vị! Thì, là giờ mình tao tế; Vị, là chốn mình đứng ngồi; Thì, Vị thuận thời ta được thong thả. Thì, Vị nghịch thời ta phải khó khăn. Xem như hào này thì Sơ là ở thì Đại Hữu, là một người gặp vận hạnh phúc, vị Sơ là vị đầu quẻ, lại là một người còn ở ngoài cuộc đời, nên Sơ được "Vô giao hại".
2. - Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cựu.
Hào Cửu ở vị Nhị, là dương cương đắc trung, Cửu là cương kiện, vẫn có tài hữu vi. Nhị là nhu thuận, lại có đức khiêm tốn, mà lại ở trên có Lục Ngũ, hết sức tín nhậm mình, trao gánh nặng thiên hạ ở trên vai Cửu Nhị, thành ra ở đời Đại Hữu, duy Cửu Nhị có sức lớn đỡ gánh nặng, tượng như cỗ xe lớn đi đường xa chở đồ nặng, tài như thế, đức như thế, mà thì vị lại như thế, thời làm việc gì chẳng nên, đi chốn nào chẳng đến.
Ba chữ "Hữu du vãng" là bảo hào này đã gánh trách nhậm nặng, tất phải có làm sự nghiệp lớn. Nếu vô du vãng, thời e có lỗi. Hữu du vãng, nghĩa là có đi chốn nào, hay làm việc gì.
Du, như nghĩa chữ Sở; Vãng, như nghĩa chữ Hành vi.
PHỤ CHÚ: Hào này là hào tốt nhất ở trong quẻ Đại Hữu, mà lời đoán Thánh nhân chỉ vô cựu mà thôi, chẳng cho chữ Cát, Hanh. Đó mới biết Thánh nhân chẳng bao giờ dạy người quá đắc ý, cũng chẳng bao giờ dạy người quên nghĩa vụ.
Một hạng người như Cửu Nhị, tài cao hơn hết thiên hạ, gánh nặng hơn hết thiên hạ. Tuy đại xa dĩ tái, cũng chỉ là vừa trọn nghĩa vụ mình mà thôi.
Vậy nên, hào từ chỉ có hai chữ: Vô cựu.
Tượng viết: đại xa dĩ tái, tích trung bất bại dã.
Có đức trung như Cửu Nhị là gánh được việc nặng ở đời Đại Hữu, tượng như cỗ xe lớn đem chở đồ nặng, thời những đồ chứa trữ ở trong xe, chắc chẳng đổ bể vậy.
PHỤ CHÚ: Hào từ này xem người trong sử Đông Tây. Về phương Đông thời ông Y Doãn, về phương Tây thời ông Gia Phú Nhĩ (Camille Bensôc Cavour), đúng được như Cửu Nhị này. Ông Y Doãn ra ứng sinh giúp vua Thang mà nói rằng: Ta quyết khiến cho vua ấy làm được như vua Nghiêu, vua Thuấn, khiến cho dân ấy được như dân đời Nghiêu, Thuấn.
Thầy Mạnh khen ông ấy là Thánh chi nhậm. Nhậm, nghĩa là gánh.
Ông Gia Phú Nhĩ làm tướng cho nước Ý Đại Lợi, kinh dinh cho nước thống nhất cường thịnh, ông trọn đời không lấy vợ. Người hỏi ông, ông trả lời rằng: nước Ý Đại Lợi là vợ của tôi. Sức lớn gánh nặng như hai ông ấy, thiệt là đại xa dĩ tái.
3. - Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc.
Thiên tử, nghĩa là một vị Nguyên thủ ở trong thiên hạ, ở về đời phong kiến tức là Hoàng đế; không ở về đời phong kiến thời hễ người nào làm Nguyên thủ của một nước cũng có thể lấy ý mà thông dụng được. Công: hạng người có tước vị rất cao, theo về đời chẳng phải phong kiến, thời vị Tổng trưởng hoặc Ủy viên trưởng cũng có thể xưng bằng Công được. Hưởng: tiệc yến rất sang trọng, tiệc yến mời được Thiên tử, tất phải được hạng người như bậc Công.
Hào này, Cửu là dương cương, ở vào vị Tam là đắc chính, ở trên hết Nội quái là có vị cao, tượng như vị Công. Một hạng người có đức cương chính, mà ở vào vị cao, vẫn là đức ứng kì vị, mà lại ở vào thì Đại Hữu tất nhiên có thổ địa, có nhân dân, người Nguyên thủ một nước, cũng phải thân tiếp với mình, tượng như ông tước Công dọn tiệc mời Thiên tử, mà Thiên tử đến ăn tiệc ở nhà tước Công.
Tuy nhiên, đã quý thời bất kiêu, đã phú thời phải bất xỉ, có thế thời phú quý mới được phúc. Tất duy quân tử mới đang nổi hào từ này. Nếu tiểu nhân mà được sung sướng bằng hưởng Thiên tử, tất nhiên kiêu xa, dâm dật, tội lỗi tới ngay, không thể chịu nổi. (Phất, nghĩa chữ Bất; Khắc, nghĩa là đương nổi).
Tượng viết: công dụng hưởng vu Thiên tử, tiểu nhân hại dã.
Đương ở thì Đại Hữu, mà lại được vinh hạnh Thiên tử tới hưởng cho mình.
Theo về quân tử thời vẫn đang nhiên. Nếu tiểu nhân thời chỉ làm hại cho nó.
Bởi vì, nhà đã giàu, vị lại cao, thân lại quý, kiêu xỉ ngày càng thêm, e có lúc sát thân vong gia, thời Đại Hữu hóa ra đại hại, nên nói rằng: tiểu nhân hại dã.
4. - Cửu Tứ, phỉ kì bành, vô cựu.
Bành, nghĩa như chữ Bành ở trong Kinh Thi. Hành nhân bành bành. Bành, nghĩa là rầm rột.
Hào này ở về thì Đại Hữu đã quá nửa rồi, là Đại Hữu đã thịnh lắm. Cửu có tính dương cương, mà ở vị trí Tứ, lại là bất trung bất chính.
Hạng người bất trung bất chính như thế, mà xử vào địa vị phú thịnh, e có nguy họa tới nơi. Thánh nhân mới có lời răn rằng: Tứ này nếu xử phú mà in như bần, xử thịnh mà thường lo suy, biết quên hẳn phú thịnh của mình. Thế là một người có đức khiêm tốn tiết kiệm, không bị hoàn cảnh xô đổ mình, mới được vô cựu.
Tượng viết: phỉ kì bành, vô cựu, minh biện tích dã.
Ở thì Đại Hữu, hưởng nghiệp Đại Hữu, mà quên sở hữu của mình lớn, chắc những hạng người ấy có trí khôn rất minh, biện biệt thị phi họa phúc được rất rành. (Tích, nghĩa là rành rõi, cũng nghĩa là rạch ròi).
5. - Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát.
Lục Ngũ ở quẻ Đại Hữu, chính là một vị Nguyên thủ ở trong thiên hạ. Ở vào thì Đại Hữu, xử vào vị chí tôn, trên dưới năm dương, tất thảy tín ngưỡng vào mình, hoàn cảnh thuận biết bao, cơ nghiệp lớn biết bao, trì dinh thủ thành thiệt là rất khó.
Sách Đại học có câu: Dữ quốc nhân giao, chỉ ư tín.
Thầy Mạnh có câu: Chí thành động thiên hạ. Vậy nên xử địa vị Lục Ngũ tất phải đem lòng chí thành giao với bậc đại hiền là Cửu Nhị, và hạng người ở chung quanh mình. Đó là căn bản để thu phục nhân tâm.
Tuy nhiên, ở vào thì Đại Hữu, xử vào vị chí tôn. Phu giao như, là đạo đức đã đành, nhưng cũng phải có thủ đoạn. Nếu chỉ một mực nhu thuận thiệt mà thôi, thời vì mình thống trị quá nhiều người, tất có hạng sinh lòng lờn lã, e mệnh lệnh lúc có bất hành.
Vậy nên cách xử trí lúc ấy, nhu phải pha cương vào, cương phải thêm nhu vào; ân phải kềm pháp vào, pháp phải gia ân vào; có cách uy nghiêm giúp vào, mới được tốt lành.
Tượng viết: quyết phu giao như, tín dĩ phát chí dã; uy như cát dị, nhi vô bị dã.
Quyết phu giao như, là lấy thành tín của một người sẽ phát triển được chí ý cho chúng nhân vậy.
Tùng lai, hạ tình bất thông, tội tại thượng nhân chẳng thành tín tiếp với hạ. Thượng nhân lấy thành tín tiếp với hạ, thời hạ nhân cũng phải lấy thành tín thông với thượng, hạ tình có lo uất bế đâu. Thế là phát chí.
Uy như chi cát, nghĩa là: muốn cho được Cát, cần phải có uy như. Bởi vì, đời Đại Hữu là đời thái bình. Thái bình thời thường hay khinh dị, nhiều lúc chẳng phòng bị, mà đạo tặc thường phát sinh.
Vậy nên phải có uy như.
Chữ Uy này thông dụng như chữ Binh Uy, Uy vũ. Binh uy, uy vũ, thảy là giống phòng bị ở đời thái bình.
Dị nhi vô bị, nghĩa là: sợ quá khinh dị, mà chẳng phòng bị.
Chữ Bị này theo như chữ Bị ở trong Kinh Thư: Duy sự sự, nãi kì hữu bị, hữu bị vô hoạn. Nghĩa là: việc gì việc gì cũng phải có đồ phòng bị sẵn. Đã phòng bị sẵn, thời không họa hoạn sinh ra.
Tỉ như: chưa rét, mà đã lo sắm áo; chưa mưa, mà đã lo sắm tơi. Ở thì Đại Hữu là thì đại rất sung sướng. Thịnh chi cực, thời họa hoạn thường hay nhân đó mà sinh ra, nên những tài liệu binh hình, càng nên ư lúc đó gấp mau chỉnh đốn, tất phải uy như mới được Cát.
6. - Thượng Cửu, tự thiên hựu chi, cát vô bất lị.
Nghĩa hào này, ở sau hệ từ đã giải thích rõ.
Đây xin dịch luôn Hệ từ vào:
Tử viết: hựu giả trợ dã, thiên chi sở trợ giả thuận dã; nhân chi sở trợ giả tín dã; lí tín, tư hồ thuận, hựu dĩ thượng hiền dã, thị dĩ tự thiên hựu chi, cát, vô bất lị dã.
Thích nghĩa hệ từ nói rằng. Hựu, nghĩa là giúp đỡ, binh vực. Trời chẳng giúp riêng cho ai, duy ai thuận với đạo trời, thời trời giúp cho. Người chẳng riêng giúp cho ai, duy ai có lòng thành tín với người, thời người giúp cho. Giày bám lấy thành tín để lòng tín ngưỡng ở lí thuận, lại biết sùng thượng bực hiền hơn mình vậy. Vì vậy, nên được tự trời giúp cho mình tốt lành mà không việc gì là chẳng lị.
Nguyên quẻ Đại Hữu này, năm hào Dương thuận tòng với một hào Âm là hào Ngũ; hào Thượng này ở trên hào Ngũ; Ngũ hư trung là có đức tín, Thượng ở trên Ngũ, mà thuận tùng hào Ngũ là lí tín; Thượng có lòng khuất kỉ phục tòng công lí là tư thuận.
Nhất tâm theo Lục Ngũ là thượng hiền, vì những đức tốt ấy, nên trời với người thảy giúp cho.
Tượng viết: Đại Hữu thượng cát, tự thiên hựu dã.
Theo thông lệ ở trong Dịch, đến hào Thượng là cuối cùng, Đại Hữu đã đến lúc cùng; lẽ thường, thời khó được Cát. Duy hào Thượng này: thịnh mà chẳng đầy, đầy mà chẳng kiêu, thuận hợp với đạo trời, mà trời giúp cho được Cát.
PHỤ CHÚ: Bát quái, thời Càn là tôn nhất; Lục thập Tứ quái thời Thái là thịnh nhất. Nhưng kể về vận hội vừa hanh thông, nhân sanh thảy hạnh phúc, thiệt không quẻ nào bằng quẻ Đại Hữu. Hào Sơ, hào Nhị, hào Tứ, thảy được chữ Vô cựu, hào Tam được Hanh; hào Ngũ được chữ Cát. Đến hào Thượng lại được cát vô bất lị. Kìa như quẻ Càn đến Thượng Cửu, thời vì kháng cực mà sinh hối, quẻ Thái đến Thượng Lục, thời vì thái chung mà mắc lận; có quẻ nào tốt bằng Đại Hữu được đâu. Toàn sáu hào không chữ "Hung", "Hối", "Lận", "Lệ" nào cả; chẳng thì đại nào thịnh trị bị phúc được như thế.
Vì cớ sao mà thế rư? Thời vì Đại Hữu là ở sau Đồng Nhân; khi thiên hạ đã đại đồng rồi. "Chính đức", "Lị dụng", "Hậu sinh", ba việc ấy hoàn toàn viên mãn. Triều, không người nào là tiểu nhân; Dã, không người nào là phỉ loại; người sinh ở thì đại ấy, sung sướng vui vẻ biết chừng nào? Cái mùi hạnh phúc của đại đồng đến đó mới đạt ư cực điểm.
Nói tóm lại, Đồng Nhân là tạo nhân cho Đại Hữu; mà Đại Hữu lại kết quả của Đồng Nhân. Thiên thì nhân sự giúp nhau làm nên là như thế.