Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 20 — Phong Địa Quán 觀
Trang in 247–253
Quẻ này là quẻ Phong Địa Quán.
Khôn hạ cũng là Nội Khôn. Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn vi Phong, Khôn vi Địa, nên tên quẻ đọc bằng Phong Địa Quán.
Chữ Quán có hai âm. Âm ở quẻ thời đọc bằng Quán, âm ở sáu hào thời đọc bằng Quan, Nghĩa cũng khác nhau: Quán, nghĩa là biểu tỏ cho người thấy; Quan, thời nghĩa là dòm xem.
TỰ QUÁI
Tự quái: Lâm giả đại dã, vật đại nhiên hậu khả quan, cố thụ chi dĩ quán.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Lâm, tiếp lấy quẻ Quán, là vì cớ sao?
Quẻ trước là quẻ Lâm, Lâm nghĩa là lớn, vật gì cũng đến lớn, vậy sau có thể biểu thị cho người xem được. Vậy nên sau quẻ Lâm, tiếp lấy quẻ Quán.
Theo về Tượng quẻ, gió đi trên đất, vạn vật tất thảy hớp lấy gió. Lại lấy bằng Thể quẻ: Hai Dương ở trên, bốn Âm ở dưới, Âm trông nom vào Dương, Dương biểu thị cho Âm, tất thảy thành được Quái. Vậy nên đặt tên quẻ bằng Quán.
SOÁN TỪ
Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu ngung nhược.
Quái từ ở đây, chuyên chỉ một bậc ở trên người, tượng như Cửu Ngũ ở trong quẻ này.
Đứng vị chí tôn, làm một người Nguyên thủ, đem thân mình làm biểu nghi cho thiên hạ, cảm thiên hạ bằng tinh thần, mà chẳng trau dồi ở ngoài hình thức. Tượng như một người chủ tế chỉ tinh thành trai khiết, như lúc bắt đầu tế mới quán thủ, chỉ ngần ấy đủ tỏ với thần minh, mà không cần phải rượu cơm bàn soạn.
(Quán, nghĩa là Chủ tế rửa tay, tục hay nói Quán tẩy; Tiến, nghĩa là bày mâm cỗ dâng lên, như tục ta thường nói: tiến tửu, tiến soạn, v.v... chỉ quán thủ, phần hương là được, mà không tiến tửu, tiến soạn, là nói thí dụ; nghĩa là cốt cho trong sạch bằng tinh thần, mà không cần trau dồi bằng vật chất. Người làm bậc trên được như thế, ấy là mình chí thành cảm động được người, tất nhiên người cũng lấy chí thành tín ngưỡng mình).
(Phu: chí thành; Ngung: tín ngưỡng).
PHỤ CHÚ: Câu Quán nhi bất tiến, chúng ta học Dịch nên hội ý, chớ nên câu nệ ở mặt chữ, cốt lấy tinh thành thờ thần, mà không cần dùng vật chất, chính là một cách cảm thần rất ý nghĩa.
Từ nhân, tiếp vật, vẫn không phải không dùng đến vật chất, nhưng tất phải có tinh thần, mà vật chất chỉ là đồ trang sức. Nếu chỉ vật chất mà thôi, mà không chút gì tinh thần, thời bao nhiêu vật chất rặt là giả dối.
Trên biểu thị cho dưới, dưới tín ngưỡng vào trên, mà chỉ là giả dối, thời còn gì hay.
Nên ở dưới câu: Quán nhi bất tiến, tức tiếp lấy chữ Hữu phu. Đó là chú trọng ở tinh thần vậy.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: đại quán tại thượng, thuận nhi tốn, trung chính dĩ quán thiên hạ; Quan, quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã. Quan thiên chi thần đạo, nhi tứ thì bất thắc, Thánh nhân dĩ thần đạo thiết giáo, nhi thiên hạ phục hĩ.
Soán viết: đại quán tại thượng, thuận nhi tốn, trung chính dĩ quán thiên hạ.
Theo như Thể quẻ, hào Ngũ ở ngôi Tôn, có đức dương cương trung chính, để cho thiên hạ trông ngóng vào.
Lại theo Thể quẻ hạ Khôn, Khôn có tính thuận. Thượng Tốn, Tốn có tính nhu hòa. Cửu Ngũ kiêm cả đức trung chính tốn thuận, dụng đức ấy mà biểu thị cho thiên hạ. Ấy là nghĩa tên quẻ Quán.
Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã.
Theo như Soán từ, thời chỉ dùng một cách chí thành nghiêm kính, khiến cho kẻ dưới dòm mình mà cảm hóa vậy.
PHỤ CHÚ: Ý nghĩa Soán từ đây, tượng như câu: Thần võ nhi bất sát, nghĩa là: dùng uy võ bằng một cách thần diệu, mà không cần phải giết người.
Tòng lai, việc võ tất có giết người, võ mà không giết người mới là thần võ. Tế tất có tiến, tế không dùng đồ tiến, mới là ý nghĩa thờ thần rất hay. Kinh Phật có câu: "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất đắc kiến Như Lai". Nghĩa là: "Phật lí chỉ ở bản tâm, vô thanh vô sắc, nếu ai lấy thanh âm mà cầu ta ở thanh âm, lấy hình sắc mà cầu ta ở hình sắc, người ấy rặt là làm đạo tà, không được thấy đức Phật Như Lai".
Câu Kinh ấy ý tứ cũng như lời Soán đây. Lấy mâm cỗ mà cầu thần, có khác gì lấy thanh sắc mà cầu Phật.
Quan thiên chi thần đạo, nhi tứ thì bất thắc, Thánh nhân dĩ thần đạo thiết giáo, nhi thiên hạ phục hĩ.
Nói đạo Quán cho cực rộng lớn, thời phải xem ở đạo trời. Đạo trời rất thần diệu, không nghe nói phô, không thấy làm lụng, mà tự nhiên tứ thì vận hành không bao giờ sai suyển. Thánh nhân bắt chước thần đạo cho thiên dó, bày đặt ra những việc giáo dục, mà thiên hạ dâu đâu cũng phục theo ngay.
PHỤ CHÚ: Chữ Thần đây không phải nghĩa là Quỷ thần, chỉ nghĩa là thần diệu, cũng như nghĩa chữ Thần ở câu: Tri kỉ kì thần hồ.
Thánh nhân có đạo thần diệu, suy ra làm giáo hóa, chẳng những thân có giáo, ngôn có giáo, mà chỉ tâm lí Thánh nhân khiến cho người cảm cách ở lúc vô hình, vô thanh. Thế là thần đạo thiết giáo. Đời bây giờ, bốn chữ: "Thần đạo thiết giáo", thầy bói thầy cúng, với những nhà mê tín thường ăn cắp bốn chữ ấy phỉnh người, thiệt oan uổng cho Thánh nhân quá.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: phong hành địa thượng, quán, Tiên vương dĩ tỉnh phương, quan dân thiết giáo.
Gió đi trên mặt đất, cổ động khắp mọi loài, là tượng quẻ Quán. Tiên vương bắt chước Tượng ấy, mà tuần tỉnh bốn phương. Xem xét tục dân, đặt ra làm chính giáo.
Tỉ như: Xứ nào đua mạt nghiệp, thời dạy bằng nông tang; xứ nào có dâm phong, thời dạy bằng lễ nghĩa; dân khiếp nhược, thời dạy bằng thượng võ; dân hiếu dũng, thời dạy bằng thượng văn. Đó là cách Quán của Tiên vương vậy.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, đồng quan, tiểu nhân, vô cựu, quân tử lẫn.
Nghĩa ở quẻ, thời Quán là biểu thị cho con người, chuyên lấy Cửu Ngũ làm chủ.
Nghĩa ở hào, thời Quan là quan chiêm, chúng thảy dòm vào Cửu Ngũ. Sơ Lục vẫn là bản chất âm nhu, lại ở vị dưới hết, ngó lên Cửu Ngũ vì cách nhau quá xa, mà nhãn quang hào Sơ lại không thấy được xa, cách quan của Sơ, tượng như bé con xem dòm, tiểu nhân mà như thế thời cũng chẳng bõ trách gì. Nếu quân tử mà như thế, thời đáng xấu hổ lắm.
Tượng viết: sơ lục đồng quan, tiểu nhân đạo dã.
Sơ Lục ở tượng đồng quan, là đạo của tiểu nhân vậy. (Đồng quan, nghĩa là xem xét lù mù, in như đồ trẻ con).
Chữ Đạo này như ta thường nói tư cách.
2. - Lục Nhị, khuy quan, lị nữ trinh.
Lục Nhị âm nhu, ở quẻ trong mà xem lên quẻ ngoài, tuy vẫn cũng có xem, nhưng mà xem bằng một cách rình lén tò mò, chỉ tỏ ra thái độ âm ám nhu nhược, không thể nào soi thấu được đạo lí dương cương trung chính của hào Ngũ, tượng như con gái đứng trong cửa, mà dòm lén khách ở ngoài, ấy là Khuy quan.
Cách quan mà như thế, chỉ thích vào nết trinh của con gái mà thôi. (Khuy: dòm lén).
Hào từ nói rằng: Lị nữ trinh, là có ý chê Lục Nhị quan chiêm không được một cách đường hoàng chính đại, không hợp với tư cách đại trượng phu. Duy Nữ tử trinh mà như thế, thời cũng chớ chớ.
Tượng viết: khuy quan nữ trinh, diệc khả xú dã.
Nhị muốn quan Ngũ, mà vì âm nhu khiếp nhược, chỉ làm cách khuy quan nữ trinh mà thôi. Nếu trượng phu mà như thế, thiệt cũng đáng xấu hổ vậy. (Xú, như nghĩa chữ Tu: xấu hổ).
PHỤ CHÚ: Sơ Lục, Lục Nhị ở vào quẻ Quán, thảy có nghĩa tấn quan Cửu Ngũ, mà cớ sao Sơ mắc chữ Lẫn, Nhị mắc chữ Xú. Bởi vì, Cửu Ngũ là dương cương quân tử; mà Sơ, Nhị là âm nhu tiểu nhân, nên thái độ hành vi của quân tử, không bao giờ mắt tiểu nhân dòm thấu được.
Sơ, thời như đứa bé con dòm đùa. Nhị, thời như gái trinh dòm lén. Quan mà quan như thế, Lẫn với Xú là đáng rồi.
3. - Lục Tam, quan ngã sinh, tiến thối.
Lục cư Tam, là ở vị bất chính, lại là vị bán thượng lạc hạ, may ra thời có thể được; lỡ rủi thời e phải lui; nhưng ở về thì đại quẻ Quán, nên Thánh nhân vẽ cho rằng: Đường tiến thối của Tam, không cần phải xem ở ai, chỉ cốt xem giữa bản thân mình, nhắm cách hành vi của đời mình, mình lượng tài sức của mình đủ ứng phó với hoàn cảnh, thời mình tiến lên mà theo đòi với Lục Tứ. Nếu lượng tài sức mình không ứng phó được nổi hoàn cảnh, thời nên an phận, may mà khỏi trụt lui như Lục Nhị.
Tiến rư! Thối rư! Chỉ hỏi ở giữa bản thân Tam. (Chữ Sinh: thân mình, hoặc đời mình, như ta thường nói: Bình sinh, nhất sinh, là nghĩa ấy).
Tượng viết: quan ngã sinh tiến thối, vị thất đạo dã.
Hào này tuy không được như bậc Thánh nhân, đại hiền, nhưng biết lường xem sức mà tiến thối: Thế thời, quyền tiến thối chỉ tại kỷ, mà bất tại nhân, chưa đến nỗi thất đạo vậy. (Thất đạo: sai đường lối).
4. - Lục Tứ, quan quốc chi quang, lị dụng tân vu vương.
Cửu Ngũ là chữ cho truyền Quái, mà bốn hào dưới thảy Quan vào Ngũ, Quan có được gần, mới được sáng suốt mà thân thiết. Lục Tứ âm nhu đắc chính kề cạnh Cửu Ngũ, quan Ngũ được rất thân thiết, tượng như vị hiền thần gặp được Thánh nhân, thấy rõ ràng vẻ vang của đời trị, nên rằng: Quan quốc chi quang, nghĩa là: Xem được ánh sáng của nước vậy. Quốc chi quang, vẫn chỉ vào Ngũ, nhưng không nói bản thân Ngũ, mà lại nói chữ Quốc, có ý nghĩa hay lắm. Bởi vì, Ngũ là Quốc trưởng, nhất ngôn, nhất động, tất thảy ảnh hưởng đến một nước. Trong nước mà có ảnh hưởng vẻ vang rực rỡ, tuy là văn minh cả một nước, mà thực là nhờ có văn minh của vị Quốc trưởng mà nảy nở ra. Nên nói rằng: Quan quốc chi quang. Quan quốc, tức là quan Ngũ đó vậy.
Lục Tứ đã quan Ngũ được thân thiết như thế, thời chắc được Quốc vương tín nhậm, được hưởng đặc lệ thù vinh làm một vị quý khách ở Vương triều.
Tượng viết: quan quốc chi quang, thượng tân dã.
Hào từ là nói một người có bạo phụ, có tài đức, há phải độc thiện kì thân mà thôi đâu, vẫn muốn đắc thì hành đạo, đem tài đức mình mà giúp đỡ cho đời, đã gặp được quốc quân như Cửu Ngũ, thời chí Tứ vẫn ưng hiến thân ở Vương triều, sẽ để phát triển tài đức của mình vậy. Nên Tượng từ có nói rằng: Thượng tân. (Thượng: chí hướng ưng muốn).
5. - Cửu Ngũ, quan ngã sinh quân tử, vô cựu.
Cửu Ngũ ở về địa vị Quốc trưởng, mà lại có đức dương cương trung chính, bốn Âm ở dưới, thảy trông ngóng vào mình, người đương Quan vào Ngũ, Ngũ càng phải tự Quan ở bản thân, là Quan ngã sinh, mà cách hành động ở bản thân, xuất hiện thi lịnh, hành chánh, lập giáo, thảy hợp với đạo quân tử. Như thế, thời vô cựu.
PHỤ CHÚ: Nghĩa hào từ này lại có một nghĩa: Bốn chữ Quân tử vô cựu, đọc làm một câu. Vì ở thì đại quẻ Quán, bốn âm dương trưởng, hai dương lần tiêu, là chính thì tiểu nhân đắc chí, mà nguy hiểm cho quân tử lắm.
Nên hào từ nói rằng: Những người quân tử ở đời này tất phải Quan ngã sinh, có đức dương cương trung chính như Cửu Ngũ, quân tử có như thế mới khỏi tội lỗi.
Thầy Bình Am thích nghĩa Kinh Dịch theo nghĩa ấy: Tri thì thức thế, học Dịch chi đại phương thời theo nghĩa ấy cũng đúng.
Tượng viết: quan ngã sinh, quan dân dã.
Lời Tượng truyện lại phát minh thêm nghĩa hào từ rằng: hào từ nói Quan ngã sinh, há phải bảo chỉ Quan ở giữa mình mà thôi đâu. Bởi vì, Cửu Ngũ là đứng vào địa vị Nguyên thủ của một nước, dân trong một nước, đức dân tối hay sáng, tục dân tốt hay xấu, quan hệ ở bản thân Ngũ. Ngũ tốt thời dân tốt, Ngũ xấu thời dân xấu. Nên Ngũ muốn xem tốt xấu ở bản thân, tất phải xem gương tốt xấu ở nơi dân.
Sách Trung Dung có câu: Bản chư thân, trưng chư dân, nghĩa là: Gốc ở giữa bản thân, mà chứng nghiệm ở nơi nhân dân. (Trưng: nghĩa là chứng).
Kinh Thư có câu: Đang ư dân giám, nghĩa là: muốn biết mình tốt hay xấu, nên soi gương ở nhân dân. Đó là nghĩa chữ Quan dân.
6. - Thượng Cửu, quan kì sinh, quân tử, vô cựu.
Hào từ Thượng Cửu cũng tượng như Cửu Ngũ, khác nhau chỉ chữ Kì với chữ Ngã. Vì hào ngũ đối với Tứ âm mà nói, thời Ngũ là ngã, còn Thượng Cửu thời chỉ nói ở bản thân Thượng Cửu.
Nên nói chữ Kì. Kì là chỉ Thượng Cửu.
Xem ở đạo đức hạnh nghĩa của mình, mà đúng với quân tử, thế thời vô cựu.
Thượng Cửu có đức dương cương, ở vào vị trên hết quẻ. Nên hào từ có chữ Quân tử, có ý nói rằng: Nếu tiểu nhân, thời không đang được.
Tượng viết: quan kì sinh, chí vị bình dã.
Trong Quẻ này, chỉ hai hào Dương ở ngôi cao, để cho chúng nhân trông xem vào, hào Thượng Cửu như hào Ngũ. Nên Tượng truyện có nói rằng: Quan kì sinh, làm phải để ý xem ở bản thân lo cho được nhân cách hoàn toàn, để cho đúng tư cách người ta xem, chí ý mình không lẽ thản nhiên vô sự được (Bình: im lặng, không lo gì).
PHỤ CHÚ: Nguyên nghĩa quẻ là bốn Âm đuổi hai Dương, tượng là người tiểu nhân hại quân tử. Nhưng đến hào từ thời chỉ thủ nghĩa bằng bốn Âm xem hai Dương, gần hai Dương thời được tốt. Nên hào từ Tam, Tứ có chữ Tân, chữ Lị. Xa hai Dương thời mắc xấu, nên hào từ Sơ, Nhị có chữ Lẫn, chữ Xú. Đó cũng là ý phù Dương ức Âm, phù quân tử ức tiểu nhân, mà cũng là lệ biến hóa ở trong Dịch.