Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 30 — Bát Thuần Li 離
Trang in 334–343
Quẻ này là quẻ Bát Thuần Li. Li hạ cũng là Nội Li, Li thượng cũng là Ngoại Li.
Trên dưới trong ngoài thảy Li, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Li.
TỰ QUÁI
Tự quái: hạm tất hữu sở lệ, cố thụ chi dĩ Li, Li giả lệ dã.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li, là vì cớ sao?
Khảm, nghĩa là hạm, đã hạm rồi, tất phải có chốn nương dựa. Nên sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li. Li, nghĩa là Lệ. Chữ Li có hai nghĩa:
Một nghĩa, Li là Lệ; theo về thể quẻ một nét âm ở giữa, nương dựa vào hai nét dương ở trên dưới, nên học nghĩa Li là Lệ; lại một nghĩa, Li là minh; vì chính giữa nét đứt đôi, tức là giữa trống không, tượng là trung hư, hư thời sáng.
Lại tượng là mặt trời, là lửa, thảy là giống sáng soi nên học nghĩa Li là minh.
PHỤ CHÚ: Dịch đến quẻ Khảm, Li là cuối cùng Thượng Kinh, chúng ta nên nhận cho ra ý Thánh nhân sắp thứ tự quẻ.
Vì sao mà sáu mươi tư quẻ. Càn, Khôn ở đầu hết; Khảm, Li ở trung gian. Ngẫm nghĩ cho đến nơi, thời có ý nghĩa rất hay. Càn, Khôn là chân thể của trời đất, mà làm nguyên tổ cho Âm Dương, nên đặt đầu hết Kinh.
Khảm, Li là trung tâm điểm của Càn, Khôn, mà làm nên công dụng thủy hỏa, bao nhiêu công dụng Tạo hóa ở trong lưỡng gian, rặt là phát nguyên ở Thủy Hỏa; Thủy Hỏa thiệt là đắc thiên địa chi trung, nên đặt Khảm, Li chính giữa Kinh.
Nguyên Dịch lí chỉ có nhất Âm nhất Dương, thuần Âm thành ra Khôn, thuần Dương thành ra Càn. Lấy nét chính giữa Càn, mà trao đổi cho Khôn thành ra Khảm, lấy nét chính giữa Khôn, mà trao đổi cho Càn thành ra Li. Nên nói rằng: Khảm Li là Thiên địa chi trung. Theo về phương hướng thời Khảm ở chính Bắc, Li ở chính Nam. Theo về thì gian, thời Khảm là giờ Tí, đúng giữa nửa đêm, Li là giờ Ngọ, đúng giữa nửa ngày.
Theo về nhân tâm, thời Khảm trung thực là chữ Thành, Li trung hư là chữ Minh.
Trung thực, nghĩa là trong lòng chắc đặc, ấy là Thành. Trung hư, nghĩa là trong lòng trống không, ấy là Minh. Thành, Minh thảy khỉ tự trong lòng mà ra. Đó chính là diệu dụng của Khảm Li. Vì chân lí là vô hình, nên Thánh nhân phải mượn vạch quẻ là hữu hình, mà phát minh cho ta hiểu. Càn, Khôn ở đầu Kinh; Khảm, Li ở giữa Kinh, là bao hàm chân lí như thế.
SOÁN TỪ
Li, lị trinh, hanh, súc tẩn ngưu, cát.
Nguyên lai, chữ Li có nghĩa chính, phản. Nghĩa chính chữ Li, Li là dếnh dựa; nghĩa phản chữ Li, Li là rời lìa.
Nhưng ở đây chỉ lấy bằng nghĩa chính, thời Li nghĩa là dếnh dựa. Vạn vật không vật gì không chốn dếnh dựa. Tỉ như: Loài chim dếnh dựa vào rừng, cá dếnh dựa vào nước, mà đến loài người cũng thế, hoặc bạn hữu dếnh dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em dếnh dựa nhau mà nên gia đình, hoặc loài người dếnh dựa nhau mà nên dân tộc, hay xã hội, tất thảy gọi bằng Hữu sở lệ.
Nói cho đến rất nhỏ, thời dếnh dựa vào đường lối nào mà đi, dếnh dựa vào nghề nghiệp nào mà sống, thảy là Hữu sở lệ.
Nghĩa chữ Li lệ bao hàm rất rộng lớn, nhưng mà hễ đã có dếnh dựa, thời trong lúc dếnh dựa có hai phương diện: một, thời dếnh dựa vào lối chính; một, thời dếnh dựa vào lối tà.
Tỉ như: Dếnh dựa vào quân tử, Thánh hiền, v.v... thời là chính, thời dếnh dựa vào tiểu nhân, đạo tặc, v.v... thời là tà. Dếnh dựa vào chính, thời dếnh dựa mà hay; dếnh dựa vào tà thời dếnh dựa mà dở. Vì cách dếnh dựa phức tạp mà lại quan hệ nhân sinh như thế, nên Quái từ nói rằng: Li, lị trinh hanh, nghĩa là: Người tất phải có chốn dếnh dựa, mà cốt nhất là dếnh dựa cho được chính, thời mới hanh.
Quái từ lại lấy thêm vào một nghĩa mà thí dụ bằng Súc tẩn ngưu, nghĩa là: Li vẫn đã minh rồi, nếu minh thái quá, thành ra nước trong quá thời không cá, người minh sát quá thời không bầy. Nên lại phải hết sức thu liễm đức minh của mình, mà nuôi chứa lấy đức thuận của mình. Ví như: nuôi con trâu cái, thời được lành. (Ngưu là thuần vật, mà lại Tẩn ngưu là thuận chi chí, Súc tẩn ngưu, là tỉ dụ bằng nuôi đức thuận). Quái từ thêm vào Tượng ấy là sợ người ta quá dụng tài minh sát vậy.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ thổ; trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hóa thành thiên hạ. Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.
Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ thổ.
Li, nghĩa là: dếnh dựa. Tỉ như: Mặt trăng, mặt trời thời dếnh dựa vào Thiên không, trăm giống lúa cây cỏ, thời dếnh dựa vào trái đất, ở trong lưỡng gian không một giống gì không dếnh dựa.
Nhưng Soán truyện chỉ cử vào giống rất lớn mà nói.
PHỤ CHÚ: Thầy Quy Sơn có câu rằng: Hỏa vô thường hình, lệ vật nhi hữu hình, nghĩa là: Lửa vẫn không hình nhất định (Li, nguyên là lửa). Vì có chốn dếnh dựa, ta mới thấy được hình; chính giữa bản thân của người được Khảm thủy làm tinh, được Li hỏa làm thần. Vì khí Âm Dương kết hợp mà thành ra hình. Khi sống thời tinh thần dếnh dựa vào hình. Đó cũng là nghĩa Li lệ.
Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hóa thành thiên hạ.
Đây là lấy Đức quẻ, thích nghĩa tên quẻ, Li có tượng là minh, trên Li dưới Li là có tượng trùng minh.
Nhưng quẻ Li sở dĩ thành quẻ, là cốt ở hào Nhị hào Ngũ, nên chỉ nói riêng về Nhị Ngũ. Nhị Ngũ thảy xử vào vị trung. Thế là trên dưới thảy có đức Minh, mà lại xử vào vị trung chính, là trung minh dĩ lệ hồ chính, mới hóa được thiên hạ mà thành ra đời văn minh.
Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.
Hào Nhị, hào Ngũ có tính chất nhu thuận, mà dếnh dựa ở đạo trung chính. Sở dĩ được hanh. Bởi vì thế, nên nuôi đức chí thuận mà được cát vậy. (Súc tẩn ngưu, ý là nuôi đức chí thuận vì chí thuận nên tỉ dụ bằng tẩn ngưu, chớ nhận thực rằng: Tẩn ngưu là trâu cái).
PHỤ CHÚ: Chữ Trung chính ở đây, nói góp cả Nhị Ngũ, nhưng theo thường lệ ở mỗi quẻ.
Lục cư Nhị vẫn trung chính đã đành, còn Lục cư Ngũ thời trung mà bất chính, cớ sao lại nói luôn chữ Trung chính. Đó chính là thì nghĩa của Kinh Dịch. Ở vào thời Li chỉ cốt xem ở nơi phụ lệ, phụ lệ vào chốn trung, tức thị chính; đạo Dịch quý trọng nhất là chữ Trung; thiên hạ thường có chính mà không trung, hễ đã trung, tất nhiên chính đó vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: Minh lưỡng tác Li, đại nhân dĩ kế minh, chiếu vu tứ phương.
Minh lưỡng tác ở quẻ Li, cũng như "Thủy tấn chí" ở quẻ Khảm. Li là hỏa, là nhật; đây chuyên chỉ bằng mặt trời, mặt trời ngày nay sáng, ngày mai sáng, đức sáng trùng điệp phát khỉ hoài. Đó là tượng Li.
Bậc đại nhân xem Tượng ấy sẽ tiếp tục đức minh, soi dọi ư bốn phương (Kế: nối tiếp; Kế minh: Nối tiếp đức minh).
Tỉ như: Đời trước minh, đời sau cũng minh, hoặc việc trước minh, việc sau cũng minh, thảy gọi bằng Kế minh được cả. Nhưng cớ sao chuyên thuộc về đại nhân? Bởi vì, có đức như Thánh nhân, có vị như bậc Nguyên thủ, mới có thể chiếu lâm được khắp bốn phương.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, lí thác nhiên, kính chi, vô cựu.
Xử vào thể Li, sự vật vẫn là phân tạp, mà Sơ Cửu dương cương cư hạ, vả lại có tính lửa, càng nóng chảy muốn bùng lên. Tượng như người nóng nảy muốn ra đi, xâu giày nhố nhăng.
(Lí: xâu chân vào giày, Thác nhiên: có ý lốp xốp).
Thánh nhân thấy ở đầu thì Li, sự tình còn lộn nhộn, mà tính chất Sơ Cửu lại nóng nảy cầu tiến quá hăng, e không tránh khỏi tội lỗi, nên lại răn cho rằng: Kính chi vô cựu, nghĩa là: Phải kính cẩn đậm đà, thời mới khỏi tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Chữ Kính đây cũng như chữ Giới thận khủng cụ ở sách Trung Dung, dương cương mà lại li minh, vẫn là chất tốt, nhưng bắt đầu vào thì Li, trí thức chưa được giàu, duyệt lịch chưa được rộng. Nếu khinh táo võng động, mà không biết giới thận khủng cụ, thời tội lỗi đến ngay. Chữ Kính chỉ ở hào từ chính là một vị thuốc chữa bệnh táo tiến cho người đời vậy.
Tượng viết: lí thác chi kính, dĩ tị cựu dã.
Đức Kính ở trong lúc lí thác, cốt để tránh điều lỗi lầm vậy.
Tòng lai, tri bất minh, thời hành bất thận, lí thác nhiên, mà biết kính chi; nhân vì tường thẩm ở lúc tri, mà khỏi sai suyễn ở lúc hành, nên được vô cựu.
2. - Lục Nhị, hoàng li, nguyên cát.
Lục Nhị ở hào tốt nhất ở trong quẻ. Li, vị Nhị đã đắc trung, Lục cư Nhị lại đắc chính, ở vào thể Li lại có đức văn minh. Bản thân Nhị đã có đức văn minh trung chính, mà trên ứng với Ngũ cũng văn minh trung thuận; minh được như thế, mà sở lệ lại đúng như thế, thiệt tốt lớn không ai bằng, nên hào từ nói rằng: Hoàng li nguyên cát. Hoàng là sắc trung, mà lại có vẻ đẹp, hình dung đức văn minh trung chính của Nhị sở lệ được đúng, nên dùng chữ Hoàng Li.
Tượng viết: hoàng li nguyên cát, đắc trung đạo dã.
Hoàng li sở dĩ nguyên cát, bởi vì: Được đạo chính trung vậy. Hào Nhị vẫn kiêm cả trung chính, nhưng không cần nói chính, là bởi vì có Nhị mới thành ra Li, có trung mới thành được văn minh. Trung là chú trọng ở quẻ Li, chữ Chính đã nuốt vào trong chữ Trung.
3. - Cửu Tam, nhật trắc chi li, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại điệt chi ta, hung.
Quẻ Li này hai thể, thảy là tượng mặt trời. Cửu Tam ở về cuối cùng hạ thể, tượng là mặt trời ngày nay sắp lặn, mà mặt trời ngày mai chưa mọc lên, nên nói rằng: Nhật trắc chi Li.
Trắc, là mặt trời gần lặn; Nhật trắc, là buổi gần hoàng hôn. Tỉ dụ vào tâm lí người ta thời vật dục đã có hơi bịt bùng, mà bản thể quang minh hầu đến ngày mờ mịt, người đến lúc ấy, tất nhiên ăn ở không nhằm lẽ, ưu lạc thảy thất thường, khi không đáng vui mà vui, khi không đáng buồn mà buồn, chẳng đập trống mà hát, thời khóc than vì già lẫn quá chừng. Như thế chẳng hung còn gì nữa.
PHỤ CHÚ: Đường Thi có câu: Ngô ca Sở vũ hoan vị tất, Tây sơn dục hàm bán biên nhật, nghĩa là: Hát Ngô múa Sở dở dang, mặt trời đã nửa ngậm gương non Đoài.
Lại có câu:
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu đình hoa.
(Con buôn biết nước mất đâu.
Cách sông hát bướng mấy câu Hậu đình).
Cổ phẫu nhi ca ở hào này là nghĩa như thế. Sách Tả Truyện: Triệu Mạnh thấy bóng mặt trời chiếu, mà than rằng: Buổi mai không kịp tính đến buổi hôm, có hơi sức gì chờ được năm năm. Triệu Mạnh thị âm, viết: Triêu tịch bất tương cập, thùy năng đãi ngũ.
Đó chính là câu: đại điệt chi ta, chữ Bất với chữ Tắc hô ứng với nhau, nghĩa là chẳng vui tầm vơ, thời buồn tầm bậy. Tổng chi, Ưu lạc giai thất kì thường, hình dung một hạng người tâm tình hôn ám, không khác gì Li ở lúc nhật trắc.
Tượng viết: nhật trắc chi li, hà khả cửu dã.
Li mà đụng lúc mặt trời đã xế rồi, thế là đức Minh đã đến lúc hôn, còn lấy gì lâu đặng.
4. - Cửu Tứ, đột như, kì lai như, phần như; tử như, khí như.
Cửu Tứ vượt qua quẻ dưới, mà bắt đầu bước vào quẻ trên, chính vừa lúc tiền minh đã tắt, mà hậu minh sắp sửa tới, đương thì đại ấy, nếu được người kế thừa cho tốt vẫn có nhịp hay.
Nhưng Cửu Tứ thời trái hẳn, bản thân là dương cương, sẵn có tính táo, mà lại ở vị Tứ, đã bất chính lại bất trung, thấy Lục Ngũ âm nhu ở trên mình, toan thả ngón cương cường của mình ra mà lăng bức Ngũ, tượng như thình lình chạy tới trước mặt Ngũ, khí thế lồng loạt như toan đốt người.
Một người ở vào thì đại thừa kế, mà láu táu vụng về, cương cường thủ họa, như Cửu Tứ ấy, còn làm sao khỏi mình chết, chúng bỏ được đâu.
Cửu Tứ tương tự như Đổng Trác ở đời Hán, Nguyễn Chỉnh ở triều Tây Sơn.
Tượng viết: đột như, kì lai như, vô sở dung dã.
Uy bức kẻ trên như Cửu Tứ, thời thiên hạ không chốn nào dung nó được vậy.
Đột như, kì lai như, là hình dung cách táo bạo, phần như, là hình dung khí nóng sốt; vô sở dung, là kết quả phải tử khí.
5. - Lục Ngũ, xuất thế đà nhược, thích ta nhược cát.
Lục Ngũ có đức văn minh của Li, sở xử lại đắc trung, vẫn sẵn có thể tốt, nhưng vì bản chất âm nhu, đứng vào chính giữa hai hào Dương, trên ép dưới đẩy, là mắc vào hoàn cảnh khó khăn, duy hào Ngũ có đức Minh hết sức phòng ưu lự hoạn, sẽ chống chọi với hoàn cảnh nổi, nên kết quả được tốt lành. Vậy nên hào từ nói rằng: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, nghĩa là: Lo sợ quá riết, tượng như nước mắt sụt sùi, tính nghĩ quá sâu, tượng như thở vắn than dài mà không nghỉ. Lục Ngũ vẫn có đức đáng được tốt, mà hào từ chỉ tỏ ra một cách ưu cụ, cũng chỉ vì thì thế bắt buộc nên thế. (Xuất thế, nghĩa là: nước mũi chảy ra; Đà, là có ý chảy dầm dề; Thích, nghĩa là: lo hung; Ta, nghĩa là: than thở).
PHỤ CHÚ: Chữ Ta ở hào Ngũ, với chữ Ta ở hào Tam tuy nghĩa đen in nhau, nhưng Ta ở hào Tam là một hạng người mê mẩn tâm thần mà thở than, Ta ở hào Ngũ lại một hạng người tri cơ úy cụ mà thở than.
Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, li vương công dã.
Lục Ngũ sở dĩ được cát, bởi vì, cách sở lệ của Ngũ, xứng được Vương công vậy.
6. - Thượng Cửu, vương dụng xuất chinh, hữu gia, chiết thủ, hoạch phỉ kì xú, vô cựu.
Thượng Cửu ở trên cùng Nhị thể trùng minh, mà lại bản chất dương cương, chính là cương minh đến cực điểm, có đức minh thời hay soi dọi, có đức cương thời hay quyết đoán.
Vương giả nên dụng tài cương minh ấy, sẽ để đi trừng ác trừ tà mà ra làm việc chinh phạt, thời tất có công tốt đẹp.
Tuy nhiên, vì cương minh quá, sợ có khi dựa vào cách tàn bạo, nên lại phải uy cho vừa đắc trung, hình cho vừa đúng tội, không nên quá tay, khi ra đánh giặc dẹp loạn, chỉ bắt lấy những tay khôi thủ mà thôi.
Chiết thủ: chỉ bắt những anh đầu bầy.
Còn như những phe tụi nó, chẳng qua là bị hiếp tùng, thời ta chẳng bắt buộc nó làm gì. (Hoạch: bắt sống được; Xú: loài tụi).
Như thế thời vô cựu.
Tượng viết: vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã.
Vương giả dụng lấy tài đức Thượng Cửu, sẽ để xuất chinh, cốt để trì ác cho thiên hạ, chính lí được bang quốc là thôi. Chinh, nguyên có nghĩa là Chính.
Mạnh Tử có câu: Chinh chi vi ngôn chính dã, nghĩa là: Chinh được những hạng người bất chính ấy là chinh.
Từ đây sắp lên, cộng ba mươi quẻ, là dịch xong Chu Dịch Thượng Kinh.