Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 39 — Thủy Sơn Kiển 蹇

Trang in 419–427

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Thủy Sơn Kiển. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Cấn sơn. Nên tên quẻ đọc bằng Thủy Sơn Kiển.

TỰ QUÁI

Tự quái: Khuê giả quai dã, quai tất hữu nạn, cố thụ chi dĩ Kiển, Kiển giả nạn dã.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khuê tiếp lấy quẻ Kiển, là vì cớ sao?

Vì rằng: Hễ đương lúc Khuê quai, tất nhiên có Kiển nạn, nên sau quẻ Khuê, tiếp lấy quẻ Kiển. Kiển, nghĩa là gay go hiểm trở.

Theo như thể quẻ, Khảm ở trên, Cấn ở dưới, trên hiểm mà dưới phải chỉ.

Trước mặt bị sông đón, sau lưng bị núi ngăn, đi đứng thiệt là khốn nạn, nên đặt tên quẻ bằng Kiển.

SOÁN TỪ

Kiển, lị tây nam, bất lị đông bắc, lị kiến đại nhân, trinh, cát.

Kiển là nguy hiểm rồi, người ở vào Thì ấy mà lại cứ nhè vào đường lối hiểm trở mà đi. Thế thời hiểm lại thêm hiểm; dầu hành động việc gì tất cũng không lợi.

Vậy chỉ nên tìm phương nào thản dị mà đi, không nên đi vào đường hiểm, nên nói rằng: Lị tây nam, bất lị đông bắc.

Tây Nam là phương hướng Khôn, là đường lối thản dị, Đông Bắc là phương hướng Cấn, là đường lối hiểm trở; Lị đi vào đường lối thản dị, không Lị đi vào đường lối hiểm trở, là Thì nghĩa ở thì Kiển.

Hễ trong thiên hạ đã tới thì Kiển nạn, người trong đời ấy ai cũng trông cho thoát khỏi vòng hiểm nạn. Nhưng công việc cứu Kiển thoát nạn, há phải những hạng người tầm thường mà làm nên rư? Cứu được Kiển, thoát được nạn, tất phải nhờ người phi thường, mà người phi thường đó là ai? Chính là bậc đại nhân, nên nói rằng: Lị kiến đại nhân.

Đại nhân, tức là Thánh hiền có đại tài đại đức, chứ không phải đại nhân như tục ta thường gọi đâu! Đó lại là một thì nghĩa ở đời Kiển.

Lại một nghĩa nữa, hễ thường nhân gặp phải thì Kiển, hoặc kẻ thời bị hoàn cảnh xấu bắt buộc, hoặc kẻ thời bị làn sóng dữ xô đẩy, đến nỗi biến tâm dịch tính, bỏ chính theo tà, kết quả chỉ là tiểu nhân, mà thân danh đến nỗi hỏng cả.

Quân tử biết như thế, nên bền giữ một cách trinh chính, dầu hoàn cảnh xấu, cũng chẳng lay chuyển được mình, dầu phong trào dữ, cũng chẳng xô đẩy được mình, như thế thời kết quả được tốt lành.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã, Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai. Kiển lị tây nam, vãng đắc trung dã, bất lị đông bắc, kì đạo cùng dã; lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã. Kiển chi thì dụng đại hĩ tai.

Soán viết: Kiển nạn dã, hiểm tại tiền dã.

Kiển, nghĩa là nạn, vì Khảm hiểm ở trước mặt mà không tiến được vậy.

PHỤ CHÚ: Nghĩa tên quẻ có ba quẻ in nhau; Kiển, Truân, Khốn, thảy thích nghĩa bằng nạn, nhưng ý tứ thời có khác nhau. Truân, thời bắt đầu vào nạn; Khốn, thời khi nạn đã đến lúc cùng; Kiển, thời chính giữa lúc nạn, muốn tiến lên mà bị Khảm thủy đón ở mặt trước, muốn thối lui thời bị Cấn sơn ngăn ở mặt sau, tượng như Đại tướng ra trận mà sụp vào giữa trùng vì, nên đặt tên bằng Kiển.

Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai.

Đây lại không nói bằng Tượng quẻ, mà chỉ nói bằng Đức quẻ. Thượng Khảm là có tính hiểm, hạ Cấn là có tính chỉ, thấy cơ hiểm mà hay chỉ, thiệt là người rất khôn đó rư.

Chữ Trí ở đây là hay tại Kiến hiểm nhi năng chỉ, việc thiên hạ không chốn nào không thấy có hiểm, mà hiểm thứ nhất là nhân tâm, khi hiểm đã hình hiện rồi, thời dầu thường nhân cũng dòm thấy được, duy hiểm đương ẩn nấp ở chốn vô hình, thời tất duy Thánh triết, mới thấy được trước. Chữ Kiến ở đây là cốt thấy ở khi cơ tiên kia vậy.

Kiến hiểm nhi năng chỉ, với Kiến cơ nhi tác cũng chỉ là một cặp nhãn quang, nên gọi bằng Trí.

Kiển lị tây nam, vãng đắc trung dã, bất lị đông bắc, kì đạo cùng dã.

Tây Nam là dựa theo lối bình thản mà đi, thời giữ được đạo trung vậy. Nếu nhè vào đường lối hiểm mà đi, thời tất nhiên đường lối đi phải cùng vậy. Tây Nam là đường lối bình dị, Đông Bắc là đường lối hiểm trở, nên nói Lị tây nam, bất lị đông bắc; chữ Tây Nam, chữ Đông Bắc là mướn danh từ đã thiết, để tỏ chỉ cho người đời một phương hướng rằng: Nên đi đường bình dị, không nên đi đường hiểm trở, chứ không phải nhất định có phương Tây Nam, phương Đông Bắc như các nhà thuật số nói đâu.

Lị kiến đại nhân, vãng hữu công dã, đang vị trinh cát, dĩ chính bang dã.

Hễ đến thì Kiển nạn, thời những công việc duy trì thế đạo, khuông cứu thì gian, tất phải chờ đến tay đại tài đại đức, nên phải Lị kiến đại nhân; Lị kiến đại nhân, thời tấn hành mới được hữu công, lại phải ở được vị trung chính, làm được đạo đại chính, mới chính được bang quốc, mà qua khỏi được thì Kiển nạn, nên nói rằng: Trinh cát.

Kiển chi thì dụng đại hĩ tai.

Ở vào thì Kiển, có đạo tế Kiển; có công dụng tế Kiển, tất phải có cặp mắt xem Thì, có trí khôn ứng biến, có thủ đoạn đại hữu vi. Nếu không phải Thánh hiền mà kiêm cả anh hùng, thời chẳng làm nên, cái công dụng đó thiệt là to lớn, nên lại tán rằng: Công dụng ở về thì Kiển thiệt lớn vậy thay!

PHỤ CHÚ: Quẻ Khảm, quẻ Kiển, quẻ Khuê, ở những Thì ấy thảy là nghịch cảnh, nhưng hay lị dụng được Thì ấy, sẽ chuyển đi được nghịch cảnh làm ra thuận cảnh, thời công nghiệp mới lớn vậy. Nên Thánh nhân ư ba quẻ ấy, thảy nói chữ Thì mà kiêm cả chữ Dụng. Vì rằng: Những bậc người hay dụng được Thì ấy, thời trong thiên hạ không ngày nào mà không hữu vi được. Như thế thời biết được nghĩa chữ Thì bao bọc được rất lớn.

Nếu chỉ chờ đến thì thái bình thản thuận, mà sau mới hữu vi được, thời còn gì là nghĩa chữ Thì, nên Thánh nhân ư ba quẻ ấy, thảy tán rằng: Thì dụng đại hĩ tai.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: sơn thượng hữu thủy, Kiển, quân tử dĩ phản thân tu đức.

Cấn sơn vẫn đã hiểm trở, mà ở trên lại có Khảm thủy, là thêm một tằng hiểm trở nữa. Thế là tượng Kiển nạn, quân tử gặp phải thì Kiển nạn, thời nên dường nào?

Chỉ nên trở lại xét trong mình, mà tu thêm đức. Đức Nhân mình tới nơi, tất được nhiều người yêu mến; đức Trí mình tới nơi, thời dầu nhân tâm hiểm cũng chẳng sợ; đức Dũng mình tới nơi, thời dầu đường đời hiểm, mình cũng chả lui, đó là đạo tế Kiển vậy.

Chữ Đức ở đây, chính là chữ Tam đạt đức ở sách Trung Dung, tức là "Trí", "Nhân", "Dũng".

Ở vào thì Kiển mà xét lại trong tâm thân, tu được ba đức ấy, có lo gì Kiển nạn nữa đâu.

PHỤ CHÚ: Quẻ Khốn với quẻ Kiển, cảnh ngộ có hơi giống nhau, nhưng Tượng truyện quẻ Khốn thời nói rằng "Trí mệnh toại chí"; Tượng truyện quẻ Kiển thời nói rằng "Phản thân tu đức"; hai việc đó có khác nhau. Nhưng há phải trái nhau đâu. Kiển với Khốn thì có khác nhau, nên quân tử tùy thì tùng đạo cũng có khác nhau. Kiển là nạn đương ở trung gian, chẳng qua khó khăn gay go mà thôi, nên quân tử phải phản thân tu đức, lãnh thân thoát nạn; còn như thì Khốn, thì nạn đã đạt ư cực diểm, quân tử gặp Thì ấy, chỉ có một cách Trí mệnh toại chí, nghĩa là vứt cái sinh mệnh để hoàn toàn chí tiết của mình, việc tuy khác nhau, nhưng cũng chung một đạo tùy thì của quân tử.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Lục, Vãng Kiển, lai dự.

Ở vào thì Kiển, là thì Kiển nạn. Sơ Lục bản chất âm nhu, vẫn không tài tế Kiển, may mới bắt đầu vào thì Kiển, nếu không kiến cơ tri thì, mà toan muốn thượng tiến, tất phải sụp vào giữa Kiển, như thế, thời vãng là Kiển.

Nếu Sơ kiến cơ tri thì, ngồi im yên phận, thời tất nhiên kết quả được tiếng khôn ngoan, thế là lai thời có danh dự.

Nghĩa chữ "Lai" phản đối với chữ "Vãng". Tiến lên, là "vãng"; không tiến lên mà chỉ, là "lai".

Lai dự cũng như lời Lão Tử nói: Biết chỉ lại thời không bao giờ nguy.

Tượng viết: vãng kiển lai dự, nghi đãi dã.

Vừa đầu thì Kiển, tiến lên thời Kiển thêm, chỉ duy nên ngồi lặng mà chờ Thì. Vì vậy, nên nói rằng: Lai dự.

2. - Lục Nhị, vương thần Kiển Kiển, phỉ cung chi cố.

Lục Nhị có đức nhu thuận trung chính, mà ở trên có hào Cửu Ngũ là một vị Quốc trưởng, lấy đức dương cương trung chính mà đồng đức với Nhị, phó thác cho Nhị lấy gánh tế Kiển. Thế thời Nhị chính là một bậc Vương thần, gặp thì vận Kiển, được Quốc trưởng tín nhậm mình, không lẽ trút gánh tế Kiển cho ai được, chỉ hữu mang thân Kiển nạn, mà chống chọi với đời Kiển gian nan không quản, nguy hiểm không từ, đó thiệt là Vương thần kiển kiển.

Nhưng sở dĩ kiển kiển, là cốt theo tấm lòng Cửu Ngũ, trên vì nước, dưới vì dân, há vì cớ thân riêng rư? (Cung: thân mình; Phỉ: chẳng phải; Cố: cớ).

PHỤ CHÚ: Tận trung kiệt tiết như Lục Nhị, nhưng hào từ chỉ nói Kiển kiển phỉ cung, mà không thấy nói tới công hiệu.

Than ôi! Phù nguy cứu hiểm cần phải có bậc đại tài, Nhị bản chất âm nhu, có tài gì cứu được đại Kiển, nhưng tâm sự Nhị thời thiệt đáng khen.

Bài Xuất sư biểu của ông Khổng Mình có câu rằng: Tôi chỉ biết gò mình hết mệt, đến chết mà sau mới thôi, đến như thành hay bại, lị hay độn, thời không phải sức mình của tôi mà thấy trước được, thiệt đúng như nghĩa hào này.

Sử nước ta như ông Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị ở đời Trần cũng bậc người ấy.

Tượng viết: Vương thần kiển kiển, chung vô vưu dã.

Một bậc Vương thần liều thân mà trung với nước, tuy kiển qua kiển lại chẳng thành công mặc dầu, nhưng tâm sự vẫn lỗi lạc, nghĩa vụ cũng hoàn toàn, kết quả thiệt không điều gì đáng chê trách.

3. - Cửu Tam, vãng kiển, lai phản.

Cửu Tam này dương cương đắc chính, ở trên hết hạ thể, nhưng cũng vẫn còn ở hạ thể, chính ứng với Tam là Thượng Lục thời âm nhu vô vị không lấy gì giúp đỡ được mình, mà ngó xuống hai hào Âm là Sơ với Nhị, âm nhu tất phải dựa vào dương cương, cứ theo như hoàn cảnh Cửu Tam, qua lên mà cầu Thượng Lục cũng không ích gì; đã không ích gì, thời có phần thiệt hại. Vậy nên vãng thời kiển, âu là quày lại mà liên kết với bạn Nhị âm. Bởi vì, họ đã quy phụ với mình, mà mình lại phản với họ, thời vây cánh có thể vững vãng, mà may ra khỏi được sự Kiển nạn chăng? Nên hào từ nói rằng: Lai phản (Phản: trở về, chẳng vãng tức là phản; Lai phản, nghĩa là bảo nên trở lại với Nhị âm, không nên tiến lên tìm Thượng Lục).

Tượng viết: vãng kiển, lai phản, nội hỉ chi dã.

Không nên vãng kiển, chỉ nên lai phản, là vì hai âm ở Nội quái, thảy sẵn lòng hoan nghênh Cửu Tam đó vậy. (Nội, là chỉ vào hai hào Âm ở dưới).

PHỤ CHÚ: Ở vào thì Kiển nạn, cần thứ nhất là người có tài, đã có tài lại cần phải có bạn.

Sơ với Nhị vì âm nhu mà không tài, nên phải ỷ lại vào Cửu Tam. Cửu Tam tuy có tài dương cương, nhưng lại khổ nỗi không bạn đồng đức, nên phải ríu rít với hai Âm, liên quần còn hơn cô lập, không dại gì một mình chạy quàng mắc lấy Kiển thêm, đó là ý Thánh nhân dạy cho ta liệu Thì mà xử thế đó vậy.

4. - Lục Tứ, vãng kiển, lai liên.

Lục Tứ đã thoát khỏi hạ thể, mà bắt đầu bước vào Thượng thể Khảm hiểm, hiểm còn chưa sâu, còn có thể thoát được. Nếu Tứ không đạt thì lưỡng lực, làm một cách lên bướng chạy liều, thời lên chừng nào, càng hiểm thêm sâu chừng ấy. Thế là Vãng Kiển.

Bây giờ nghĩ cho Tứ một phương pháp ở thì Kiển, kề tận mình có Cửu Tam, Tam lại có thế lực dắt được Nhị âm, thiệt là một người sừng sỏi ở trong thì Kiển. Nếu Tứ biết thối lại mà liên lạc với Tam, Tam lại dắt dìu Nhị âm mà làm một bè với mình, phương pháp của Tứ ở thì Kiển như thế là rất hay, nên hào từ lại nói rằng: Lai liên. Lai, nghĩa là lai với Cửu Tam; Liên, nghĩa là liên hợp với ba hào Nội quái. Tứ liên với Tam, Tam lại liên với Nhị âm, có thể thành được một đảng lớn, đó là một cách rất hay ở đạo tế Kiển.

Tượng viết: vãng Kiển lai liên, đương vị thực dã.

Tứ sở dĩ lai với Tam, mà liên hợp cả Nhị âm, vì bốn hào ấy thảy ở vào địa vị thì Kiển, mà đem một tấm lòng thành thực cứu nhau ở giữa đời hoạn nạn, còn gì tốt hơn.

5. - Cửu Ngũ, đại kiển, bằng lai.

Cửu Ngũ ở chính giữa Ngoại Khảm, đã ở thì Kiển nạn, mà lại đứng giữa Khảm hiểm, thiệt là đã Kiển phi thường, huống gì thân mình lại ở vị chí tôn, trăm dâu đổ cả đầu tằm, thì Kiển nạn lại càng to lớn, nên nói rằng: Đại kiển. Kiển đã to lớn như thế, một cột đá ở giữa dòng nước chảy, một cây cối ở giữa trận gió thu, dầu Ngũ có tài dương cương đến thế nào cũng khó mong cho thoát khỏi Kiển nạn. Nhưng may thay, ở dưới có hào chính ứng với mình là Lục Nhị, là một bậc quân tử có đức trung chính. Nhị đã sẵn lòng giúp Ngũ, tất dắt bầy kéo bạn đến giúp Ngũ khá đông. Bản thân đã dương cương lại có bạn trung chính giùm giúp cho mình, đó là việc đáng mừng cho Cửu Ngũ.

PHỤ CHÚ: Bằng lai, mà không thấy nói cát hanh, thế thời công việc tế Kiển, chẳng hèn mọn lắm hay sao? Phải, thiệt như thế.

Xưa nay, đời có phi thường chi biến, tất phải cậy có phi thường chi tài, mà có phi thường chi tài, mới nên được phi thường chi công.

Bây giờ Ngũ tuy dương cương mà những người giúp công với Ngũ, chỉ một Cửu Tam là dương cương, còn Lục Tứ, Lục Nhị, Sơ Lục, thảy là bạn âm nhu. Nguyên thủ tuy có cương cường, mà tay chân hơn nữa là đồ nhu nhược, ở vào thì Kiển mà chỉ có một mình Ngũ trổi hơn hết, lấy gì làm nên được công nghiệp phi thường được rư. Vậy nên hào từ không có chữ Cát, Hanh.

Còn như các hào có nói: chữ Vãng lai, mà Nhị, Ngũ thảy chỉ nói: chữ Kiển, là vì sao?

Bởi vì, Ngũ là bậc Nguyên thủ, Nhị là bậc đại thần, trách nhậm quá chừng nặng, nên nghĩa vụ không thể chối từ, chẳng lẽ gì mà thương lượng được vãng hay lai nữa. Vậy nên các hào thời lo cho vãng kiển.

Duy Nhị, Ngũ thời dầu Kiển cũng phải vãng, mà nói lai, cũng chẳng biết lai vào đâu. Đó lại là ý Thánh nhân, hi vọng cho những người có trách nhiệm ở về thì Kiển vậy.

Tượng viết: đại kiển, bằng lai, dĩ trung tiết dã.

Đặt thân vào giữa Khảm hiểm, thiệt là nạn kiển hung lắm, mà may được bằng lai, là vì Ngũ này có đức trung chính vậy (Chữ Tiết là thay cho chữ Đức).

PHỤ CHÚ: Chữ Trung ở về thì Kiển, có đạo lí rất hay, mà cũng thủ đoạn rất cao, cuộc đời đến khi điên đảo, việc đời đến hội rối ren, nếu nóng nảy quá một phân, thời không trúng với đạo lí.

Nếu trì trệ quá một phân, thời hụt mất cơ hội, nên cần nhất là chữ Trung, xử trí đắc nghi, cương nhu vừa phải, mới mong cứu được đại nạn, mà thành được đại công, như thế là tác dụng của chữ Trung, mà cũng có thể gọi bằng chữ Trung, trung thời trúng, trúng thời chẳng bao giờ trật. Vậy nên, Tượng truyện Cửu Ngũ, kết thúc lấy chữ Trung.

6. - Thượng Lục, vãng kiển, lai thạc, cát, lị kiến đại nhân.

Đạo lí trong Dịch, quý trọng nhất là chữ Thì, mỗi một hào nào, có Thì của hào ấy, ở thì Kiển, mà đến hào Thượng Lục này là một dịp đáng mừng lắm.

Vì hào này ở cuối cùng quẻ, chính là thì Kiển đã đến lúc cuối cùng, Kiển đã cực rồi, tất nhiên phải thông, duy cốt bản thân hào Thượng, biết lựa Thì mà xử trí, thời chắc được tốt lành, nên hào từ lại dạy cho rằng: mình đã ở thì Kiển cực, mình nên tự xét địa vị của mình, tự liệu tài mình là âm nhu. Không thể một mình mạo hiểm mà đi được. Nếu mình không lượng lực mà cứ đi càn, thời Kiển chỉ hoàn Kiển, chi bằng mình cứ ngồi im mà lo tìm bạn dương cương, kề bên mình có hào Cửu Ngũ, là bậc dương cương trung chính, rất đủ tài lực mà giúp đỡ cho mình, nên nói rằng: Lai thạc cát, nghĩa là, mình hãy quày lại mà tìm người phụ bật, thời có lẽ làm nên được việc lớn, mà được tốt lành.

Thạc, là to lớn, cũng như nghĩa chữ Thạc ở quẻ Bác, là chỉ vào hào Dương cương, nhưng mà chỉ nói "Lai thạc", Thánh nhân còn sợ chúng mình không hiểu, nên lại nói thêm rằng: Lị kiến đại nhân.

Đại nhân là chỉ vào hào Cửu Ngũ, toàn quẻ duy Cửu Ngũ dương cương đắc trung, mà lại ở tôn vị, chính là bậc đại nhân hữu tài hữu đức, mà Thượng Lục nên lị kiến người ấy đó vậy.

PHỤ CHÚ: Thượng Lục kể tài không bằng Cửu Tam, kể vị với đức thời không bằng Cửu Ngũ, kể tính âm nhu có khác gì Sơ, Nhị, Tứ đâu. Nhưng cớ sao các hào kia không được chữ Cát, mà một mình Thượng lại được Cát? May phúc cho Thượng, vì Thượng đã ở vào thì Kiển cực, vật cùng tắc phản, cùng cực tắc thông, đó là lẽ tự nhiên. Nếu Thượng không biết lai thạc, không biết lị kiến đại nhân, thời làm gì được Cát rư?

Mới biết rằng: Nhân sự với Khí số thường giúp nhau mà nên, cũng thường tranh nhau mà thắng. Xem như hào cuối cùng quẻ Kiển có chữ Cát, mà năm hào trước kia thảy không hung, hối, lẫn. Đó mới biết Thánh nhân bàn đạo lí có bao giờ đổ tại Khí số đâu, mà chỉ cốt ở hai chữ "Thì Trung".

Nếu Nhân sự mà đúng được thì Trung, thời dầu Khí số xấu thế nào, chúng ta cũng thây kệ.

Tượng viết: vãng kiển, lai thạc, chí tại nội dã, lị kiến đại nhân, dĩ tòng quý dã.

Thượng Lục ứng với Tam, thân với Ngũ, sẵn lòng cầu trợ với bạn dương cương ở trong mà lại biết phục tòng với hào quý là hào Cửu Ngũ, mà chúng đã tín ngưỡng bằng đại nhân, nên hào từ nói: Lai thạc cát (Chữ Quý là chỉ vào Cửu Ngũ).