Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 42 — Phong Lôi Ích 益

Trang in 447–459

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Phong Lôi Ích. Chấn hạ cũng là Nội Chấn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn phong, Chấn lôi. Nên tên quẻ đọc bằng Phong Lôi Ích.

TỰ QUÁI

Tự quái: Tổn nhi bất dĩ, tất Ích, cố thụ chi dĩ Ích.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tổn tiếp lấy quẻ Ích, là vì cớ sao?

Trên ấy là quẻ Tổn, tổn ích thịnh suy là như cái vòng xây tròn, Tổn đã cùng cực tất nhiên phải ích. Vậy nên sau quẻ Tổn tiếp lấy quẻ Ích.

Theo về Tượng quẻ, Tốn là phong, Chấn là lôi, lôi với phong là hai giống làm ích cho nhau. Gió mạnh thời sấm càng hung, sấm choảng thời gió càng dữ, gió sấm phụ ích cho nhau, nên gọi bằng ích.

Còn theo về nghĩa quẻ bớt hào Dương ở quẻ trên, thêm cho hào Âm ở dưới, quẻ trên nguyên là quẻ Càn, bớt một hào Dương thành ra Tốn; quẻ dưới nguyên là quẻ Khôn, thêm vào một hào Dương thành ra Chấn, thế là bớt của kẻ trên, thêm cho người dưới đã dày, thời trên thêm vững, nên đặt tên quẻ bằng Ích.

SOÁN TỪ

Ích, lị hữu du vãng, lị thiệp đại xuyên.

Ở về thì đại ích, là công dụng cốt làm lị ích cho thiên hạ, thiên hạ thảy đã được thụ ích cả, thời việc gì to lớn chắc cũng làm xong, dầu có gian nan nguy hiểm gì, chắc cũng cứu vớt được lanh chóng.

Nói tóm lại, vô luận quốc gia nào, xã hội nào, muốn làm nên công việc lớn, muốn tiêu trừ được hoạn nạn lớn, tất trước phải hết sức làm những việc lị ích chung. Tức như, mở mang đường kinh tế cho lị khắp nhân dân, mở rộng đường giáo dục cho phổ cập xã hội, thảy là việc Tổn thượng Ích hạ, lúc bấy giờ hữu du vãng, hay thiệp đại xuyên, thảy kết quả được viên mãn.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng hạ hạ, kì đạo đại quang, lị hữu du vãng, trung chính hữu khánh, lị thiệp đại xuyên, mộc đạo nãi hành, ích động nhi tốn, nhật tiến vô cương, thiên thí địa sanh, kì ích vô phương; phàm ích chi đạo, dữ thì giai hành.

Soán viết: Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng hạ hạ, kì đạo đại quang.

Quẻ này sở dĩ dặt tên bằng quẻ Ích, là theo thể quẻ với Đức quẻ mà đặt ra. Nguyên lí của Vũ trụ ba nét dương ở trên làm Càn, là trời, ba nét âm ở dưới làm Khôn, là đất, bây giờ bớt hào Dương quẻ trên, mà ích cho hai hào Âm ở quẻ dưới, tất nhiên dân tình hòa thỏa, vui vẻ không biết chừng nào.

Tự mình là địa vị trên, chịu lún mình khuất phục với kẻ dưới, thời đạo của mình càng rõ rệt hung.

Bốn câu này là tóm thích nghĩa chữ Ích.

PHỤ CHÚ: Tổn hạ Ích thượng thời thượng vẫn được ích, cớ sao tên quẻ gọi bằng Tổn; Tổn thượng Ích hạ, thời kẻ trên vẫn có phần tổn, cớ sao tên quẻ gọi bằng Ích, chẳng phải là vu khoát viễn vông lắm hay sao.

Ôi! Lí thuyết đến thế, thiệt là đúng lắm, đúng lắm. Xưa Lão Tử nói rằng: Muốn sang tất lấy người hèn làm gốc, muốn cao tất lấy đám thấp làm nền.

Vậy nên xem lấy phía trước, thời phía trên phải lung lay, thế là Tổn hạ, thời kết quả kẻ trên cũng phải tổn; Ích hạ thời kẻ trên cũng được ích, trên chỉ lo làm ích cho mình, té ra dưới bị tổn, mà mình cũng chịu tổn, nên đặt tên quẻ bằng Tổn.

Trái lại, trên chỉ biết lo làm ích cho dưới, thời dưới đã thụ ích, mà cuối cùng mình cũng thụ ích, nên đặt tên quẻ bằng ích, chỉ xem ở hai chữ tên quẻ, mà đạo lí vạn cổ bất dịch. Xem ở Soán truyện đây thích nghĩa lại càng minh bạch lắm, há phải vu khoát rư?

Xưa Đường Huyền Tông làm vua nước Trung Hoa nói rằng: Hình dáng ta tuy gầy, nhưng có thể thiên hạ tất béo, chính là đúng câu Tổn thượng Ích hạ, dân duyệt vô cương đó vậy.

Lị hữu du vãng, trung chính hữu khánh.

Quái từ nói rằng: Lị hữu du vãng, là vì ở trong quẻ, hào Ngũ có đức dương cương trung chính, hào Nhị lại thấy đức trung chính mà ứng với Ngũ, đó là lấy đạo trung chính làm ích cho thiên hạ, mà thiên hạ được nhờ phúc khánh đó vậy.

Lị thiệp đại xuyên, mộc đạo nãi hành.

Quái từ sở dĩ nói rằng: Lị thiệp đại xuyên, nghĩa là: Đã ở thì đại Ích, có đến lúc nguy hiểm gian nan, mới tỏ rõ ra một cách tấn hành thuận lí, trên mặt chữ đáng nói Ích đạo, nhưng vì Tượng quẻ, Chấn, Tốn thảy có tượng mộc, mộc làm được thuyền tàu là đồ dùng thiệp đại xuyên, nên nói rằng: Mộc đạo nãi hành.

PHỤ CHÚ: Hiệu quả của Ích hạ nếu ở lúc bình thường vô sự, thời Ích còn nhỏ nhen, duy đến lúc hiểm trở gian nan, mới thấy được Ích rất lớn. "Xưa Mạnh Thường Quân làm Thủ tướng nước Tề, phát nợ cho dân huyện Triết vay, kể có hàng mấy vạn, đến khi sai người đi thâu tiền lị, khách là Phùng Hoan xin lĩnh khoán đi thu. Lúc ra đi, hỏi Mạnh Thường Quân rằng: Tớ thu được nợ thời nên mua gì đem về. Mạnh Thường Quân bảo rằng: Anh cứ xem trong nhà ta cái gì không sẵn, tùy ý anh liệu mua. Phùng Hoan ra đi, mang giấy khế nợ đầy một xe, vừa tới huyện Triết, thấy dân huyện gặp năm mất mùa đói kém, sinh kế tiêu điều. Phùng Hoan tức thì nhóm dân huyện mà nói rằng: Quan Thủ tướng bảo ta ra đây là cốt để ý thăm dân tình, chớ không phải cốt ra đòi nợ đâu. Bây giờ dân tình khốn khổ thế này, ta thể lòng Thủ tướng, tha ráo nợ cho dân, lập tức đốt bao nhiêu khế ở trước mặt dân. Phùng Hoan rũ hai tay trắng về phục mệnh với Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân hỏi rằng: Sao anh về tay không chứ? Phùng Hoan thưa rằng: Tôi thấy dân huyện đói khổ quá, nên khế ước tôi đốt ráo, vả xem trong nhà Ngài, bao nhiêu đồ sang vật lạ sẵn thấy thừa cả rồi, duy có một giống còn thiếu, là giống nghĩa, tôi mua giống nghĩa ấy đem về hiến Ngài. Mạnh Thường Quân có ý không bằng lòng, nhưng cũng mặc nhiên mời Phùng Hoan ra nhà khách.

Chẳng bao lâu, Tề Vương mất, vua con tức vị, các quý thích đại thần, thảy ghét thế lực Mạnh Thường Quân, dèm với vua, kể hết những việc xấu của Mạnh Thường Quân, vua giận lắm, cách chức Thủ tướng, hạ lệnh đuổi Mạnh Thường Quân không được ở Kinh đô nữa.

Mạnh Thường Quân kinh hoàng e tính mạng khó toàn; Phùng Hoan vào bàn với Mạnh Thường Quân gấp gấp trở về huyện Triết. Mạnh Thường Quân nghe lời, nửa đêm thình lình lùa xe ngựa chạy mau về huyện Triết, tới địa giới chính vừa nửa ngày, dân huyện biết nghe Mạnh Thường Quân về, già trẻ trai gái đổ ra hết, để đón xe Mạnh Thường Quân, xúm nhau trước ngựa và hô lớn lên rằng: Cha Huyện ta đã về, hai bên xe dân bọc có hàng mấy vạn.

Mạnh Thường Quân ngó lại nói với Phùng Hoan rằng: Ngày nay tôi mới biết cái lị mà tiên sinh mua nghĩa hữu hiệu lớn như thế.

Vua Tề nghe việc ấy, sợ Mạnh Thường Quân quá đắc nhân tâm, mà e có ngày làm phản chăng, lập tức mời Mạnh Thường Quân trở về nước, phục vị Thủ tướng như xưa, lại nghiêm trách những bọn lúc xưa dèm Mạnh.

Chúng ta thử xem việc ấy, mới biết Tổn thượng Ích hạ, mà Lị thiệp đại xuyên chẳng phải là lời nói suông đâu.

Ích động nhi tốn, nhật tấn vô cương.

Ở vào thì ích, mà làm công việc ích, tất phải động như Chấn, tính thuận như Tốn, hễ động làm việc gì, tất thuận với đạo lí, thuận với thì thế, thời những công việc ích ngày càng tiến lên mãi, mà không chừng mực.

Thiên thí địa sanh, kì ích vô phương.

Bây giờ lại nói đạo Ích cho được thiệt rộng, ích ở trong thiên hạ có gì lớn hơn công trời đất, vì rằng trời lấy khí Dương làm ích cho đất cũng là bớt trên làm ích cho dưới, đất lại nhờ ơn trời mà sinh dục được vạn vật, vạn vật lại nhờ phần ích đó rộng lớn mênh mông, không thể hạn định được phương hướng nào.

Vô phương, nghĩa là không có hạn lượng, cũng như chữ Vô cương, chỉ là hình dung ý quang đại.

Phàm ích chi đạo, dữ thì giai hành.

Đây lại nói tóm hết nghĩa quẻ Ích, hễ những đạo làm được cho ích, Thiên địa cũng vậy, Thánh nhân cũng vậy, vẫn không thì nào mà không làm việc ích, nhưng mà cái phương pháp làm cho nên ích, cái đường lối lên cho tới ích, cũng phải rập với Thì mà cặp nhau đi, làm đúng với Thì tức là ích, làm trái với Thì tức là vô ích. Tỉ như: đương mùa cày cấy, mà bảo dân đi làm đường, đương mùa bão lụt mà bảo dân đi đào sông, đương hồi tật dịch mà cấp đồ ăn uống cho dân dân đương lúc đói khổ mà cưỡng bách giáo dục cho dân, há phải không làm ích đâu, nhưng vì trái với Thì, thời chẳng những đã vô ích mà lại tổn nữa kia.

PHỤ CHÚ: Ở vào thì Tổn, là Tổn hạ Ích thượng, ở vào thì Ích, là Tổn thượng Ích hạ, nhưng mà Soán truyện thảy có câu: Dữ thì giai hành, chữ Thì ở hai quẻ rất có thú vị.

Lí vẫn nhất định, mà Thì không nhất định. Thì có thường có biến, mà đạo lí nhân đó mà có kinh có quyền. Tổn hạ vẫn không phải là hay, nhưng gặp khi quyền biến cũng phải tùy Thì mà tổn hạ. Tỉ như: Trong nước gặp lúc binh trận, mộ của dân giúp cho chính phủ, chẳng phải là tổn hạ hay sao, nhưng chẳng qua tạm thì mà thôi. Vì thì đáng tổn mà tổn, là thuộc về nghĩa quyền biến.

Còn như thì đáng ích mà ích, thời Tổn thượng Ích hạ, chính là đạo Kinh Thường, dầu thì nào cũng phải như thế. Thánh nhân sợ ta không hiểu nghĩa ấy, vậy nên ở trong hai quẻ, chung có một chữ Thì.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Phong lôi ích, quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải.

Phong lôi hợp nhau lại, mà giúp thêm thế lực cho nhau, ấy là tượng quẻ Ích, quân tử xem ở Tượng ấy, mà cầu việc ích ở nơi tu thân. Hễ mình thấy được việc lành, mà mình chưa làm tới, thời phải gấp gấp xê xích cho tới nơi chốn lành. Hễ mình biết được mình có những điều gì lầm lỗi, phải gấp gấp sửa đổi ngay, hai câu ấy, nói tắt, thời chỉ có bốn chữ: Dời mình vào sự lành là Thiên thiện; chữa đổi sự lầm lỗi là Cải quá.

Thiên thiện, Cải quá, là việc ích to lớn nhất ở trong thân, mà tinh thần lại ở một chữ Tắc, chữ Tắc có hàm ý nhanh chóng và quả quyết. Nhưng Cải quá lại khó hơn Thiên thiện. Thiên thiện, tỉ dụ như: Việc gì mình làm chưa được thiệt khéo, thấy người ta khéo hơn, mình lo nhích lên cho khéo bằng người. Cải quá, tỉ dụ như: Mình có cái vết đen bây giờ mình cố mài đánh cho hóa trắng, nên công phu cải quá tất phải hết sức dũng cảm, mới làm được xong.

PHỤ CHÚ: Thánh nhân làm Dịch cốt khiến cho chúng ta đúc nên nhân cách, mà muốn đúc nên nhân cách thời chỉ xem Tượng truyện ở hai quẻ Tổn, Ích là công việc hoàn toàn rồi. Trừng phẫn, Trất dục, là công phu tổn lớn nhất ở trong mình, Thiện thiện cải quá, là công phu ích lớn nhất ở trong mình, chúng ta nếu làm được công phu ấy, thời nhân cách đã thập phần cao thượng, suy rộng ra mà làm việc quốc gia xã hội. Chắc cũng đúng với đạo Tổn Ích, nhưng chỉ tám chữ, mà công phu thiệt khó hoàn toàn, ai học Dịch xin thể nhận cho kĩ.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Cửu, lị dụng vi đại tác, nguyên cát, vô cựu.

Sơ Cửu có đức dương cương, lại làm chủ cho Nội quái, là có thể chấn động được. Vả lại, ở vào thì Ích, ở trên có bạn chính ứng với mình là Lục Tứ, Tứ ở ngôi tôn lại sẵn lòng làm ích cho Sơ, như thế, là một người có tài lại gặp thì gặp chủ, tuy địa vị còn thấp, không thể tự mình hữu vi được.

Nhưng người trên đã tín dụng mình, mà thì Ích với mình, há lẽ ngồi không mà chẳng làm việc báo hiếu rư, tất nhiên phải hết sức đem tài dương cương của mình chia vai với Tứ, mà làm việc đại ích cho thiên hạ. Nhưng hiềm Sơ là người ở dưới mà đỡ lấy gánh quá to, e có lúc đổ bể chăng, nên lại cần phải có đởm đại tâm tiểu, hạnh phương trí viên, thủ đoạn cho thiệt khôn khéo, kế hoạch cho được hoàn toàn, những việc mình sở vi cầu cho được hoàn thiện, nguyên cát tất như thế, mới được vô cựu. Chữ Nguyên cát đây không phải nói bằng kết quả, chỉ nghĩa là làm cho được tốt lành. Thế thời nguyên cát chỉ là tạo nhân, mà vô cựu mới là kết quả.

Tượng viết: nguyên cát, vô cựu, hạ bất hậu sự dã.

Nguyên cát vô cựu, nghĩa là làm cho được rất phải, mới khỏi tội lỗi. Hào từ như thế là răn cho Sơ Cửu, bởi vì Sơ Cửu là địa vị còn ở dưới thấp, không nên gánh lấy những việc nặng lớn vậy.

Hậu, nghĩa là to lớn nặng nề, làm kẻ dưới mà dám gánh việc to, nếu không nguyên cát, thời làm sao được vô cựu.

2. - Lục Nhị, hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi vĩnh trinh cát, vương dụng hưởng vu đế, cát.

Lục Nhị âm nhu xử vào vị trung chính, và bản thể lại nhu thuận, trung chính mà lại nhu thuận, nhân cách như thế, ở vào thì Ích hạ, chắc người trên ích cho rất nhiều, e có người đem cái ích thiệt to mà trao cho mình, mà mình không thể từ chối được, được ích to lớn như thế vẫn không gì là xấu, nhưng còn sợ Lục Nhị âm nhu hoặc vì quá mềm mà có lúc thay đổi, nếu đổi đức trung chính thời còn ai làm ích cho, nên lại răn cho rằng: phải thường lâu dài trình độ, giữ chặt đức trung chính, thời mới được cát.

Nhị mà quả nhiên được vĩnh trinh, thời đem lòng thành kính trung trực, mà cầu ích với trời, chắc trời cũng vui giúp cho, huống gì người nữa rư? Nên lại thiết lời giả phỏng mà nói rằng: Vương dụng hưởng vu đế, cát.

Nghĩa là: Giả như Nhị mà làm đến Vương thời đức trung chính đó, dùng lên tế thần. Thượng đế thần cũng hưởng cho mà được phúc cát.

Thích tóm lại, hoặc ích chi, thập bằng chi quy, phất khắc vi, cũng in như Lục Ngũ quẻ Tổn.

Xem nghĩa trên kia thích đã đủ hiểu. Vĩnh trinh, cát, là lời cảnh giới, nhị vương dụng hưởng vu đế, cát, là lời giả thiết ý như nói rằng: Có đức trung chính, mà lại vĩnh trinh, thời chẳng những người ích cho mà trời cũng làm ích cho nữa vậy.

Tượng viết: hoặc ích chi, tự ngoại lai dã.

Tư cách một người đã trung chính, lại vĩnh trinh, như hào Lục Nhị, tất nhiên người ích cho rất nhiều, bao nhiêu việc ích rặt là tự ngoài đưa đến cho mình. Nên nói: Hoặc ích chi, tự ngoại lai dã. Chữ Hoặc là có ý nói không nhất định người nào. Ngoại, là chỉ ở Ngoại quái, người ở phía trên.

3. - Lục Tam, ích chi dụng hung sự, vô cựu, hữu phu trung hành, cáo công dụng khuê.

Hào này bản chất đã âm nhu, mà lại bất trung bất chính, nhân cách như thế, vẫn không đáng được ích, nhưng vì ở về thì Ích, nhờ hoàn cảnh đó, làm lị ích cho Tam, mà Tam cũng đương được một phần thụ ích. Theo về bản chất của Tam, nên Ích cho Tam một cách lấy họa làm phúc, gieo thân vào vòng hoạn nạn, thử sắt lấy than, thử vàng lấy dá, khiến cho anh đổi lòng sửa nết, thành ra một người có giá trị trong đời, như thế, gọi bằng Ích chi dụng hung sự. Dụng hung sự, nghĩa là, dùng những việc răn đe trừng trị. Dùng những việc răn đe trừng trị, mà làm ích cho Tam, Tam cũng nhờ được những việc làm ích cho mình, nên Tam động tâm nhẫn tính, tăng ích những việc sở bất năng, mà không đến tội lỗi.

Tuy nhiên, bản chất Tam nguyên không được tốt, nếu miễn cưỡng vi thiện, chỉ yểm sức ở mặt ngoài, thời cũng không ra gì, nên hào từ răn rằng: Tam đã nhờ được hung sự mà làm ích cho mình rồi, thời Tam phải hết sức chân thành, cực đoan tu tỉnh, làm sao cho đúng với đạo trung. Nếu đi suốt đường lối ấy, kết quả tất lòng thành tín thông đạt đến người bậc trên mình, mà mình thụ ích hoài hoài.

Câu này giả thiết bằng một việc dùng ngọc khuê cáo với vương công, khuê là một thứ ngọc trắng mà trong. Cáo công dụng khuê, là ý thông đạt lòng thành lên bậc trên, vì ở vào thì Ích là thế Tổn thượng Ích hạ, nếu Tam đã hữu phu, trung hành tất nhiên được lòng người trên, mà người trên vui lòng làm ích cho, cũng ví như dùng ngọc khuê cáo với công, mà công vui lòng nhận vậy.

Tượng viết: ích chi dụng hung sự, cố hữu chi dã.

Ích dụng hung sự, là cốt muốn cho Tam thể lấy tấm lòng kẻ ích cho mình, mà giữ lấy lòng trung chính cho bền vững. Hai chữ Cố hữu, có ý ngậm bốn chữ Hữu phu trung hành.

Rằng: Hữu phu, thời là thiệt lòng không dối.

Rằng: Trung hành, thời cân kéo chuông chỉnh không chếch lệch đổ bể, như thế, mới là cố hữu chi.

PHỤ CHÚ: Năm chữ: Ích chi dụng hung sự, đầu mới đọc qua thiệt là khó hiểu, Hung sự là việc xấu, cớ sao lại nói Ích chi, chúng ta nghĩ cho thiệt kĩ, mới biết là rất hay.

Nguyên lai, tính người ai cũng có thể làm việc lành, làm được việc lành tất nhiên được phúc, được phúc tất nhiên là thụ ích. Nhưng khi chất người ta có trí, ngu, minh, ám khác nhau, thời cách làm ích cho người có khác nhau. Nếu gặp lấy người ngu ám như Lục Tam, mà lại làm ích cho những việc bình thường, thuận thản, chắc nó lại kiêu dâm thủ họa, chẳng phải là yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau hay sao? Vậy nên, muốn làm ích cho nó, tất phải dụng hung sự. Hung sự, là những việc khốn khó gay go.

Tục ngữ ta có câu: "Thương con cho đòn". Lại người xưa có câu: "Thuốc độc đắng miệng", nhưng lị ư thôi bệnh. Dịch đến hào từ này lại nhớ đến lời thầy Mạnh và thầy Trương. Thầy Mạnh nói rằng: Trời toan trao sự nghiệp lớn cho người ấy, tất trước làm khổ mệt tâm chí, đau mệt xương gân, đói rét thân thể, nó toan làm việc gì thời bắt buộc cho trái lòng nó, là cố khiến cho phát động những lòng lành, nín nhịn những tính xấu, mà những việc nó không hay làm được, càng ngày càng tăng ích lên.

Động tâm, nghĩa là cảm động được lương tâm. Nhẫn tính, nghĩa là nín nhịn tính xấu.

Thầy Trương có nói: Nghèo hèn khốn khổ, trải bao những cảnh gay go, chính là trời báu quý mày, rèn luyện mày, làm cho mày nên tư cách một con người.

Hai chữ Ngọc Thành đó, chính là Ích chi bần tiện ưu thích, tức là hung sự, lấy ưu thích bần tiện sẽ để ngọc thành cho mày, tức là Ích chi dụng hung sự, tham hợp với câu nói thầy Mạnh. Giáng đại nhậm, là việc ích rất lớn, mà trước phải bắt cho khốn tâm hành lự, chẳng phải dụng hung sự hay sao? Nghĩa hào Lục Tam này chớ đọc qua mà bảo là khó hiểu.

4. - Lục Tứ, trung hành, cáo công tòng, lị dụng vi y thiên quốc.

Hào này ở về thì ích, mà lại ở quẻ trên, chính là trách nhậm phải ích cho dưới. Vả lại, địa vị mình, tuy không phải Nguyên thủ của một nước, nhưng thân cận với Nguyên thủ, thời trách nhậm lại càng nặng hung, mà hiềm vì Tứ âm nhu, lại kém đức trung, nên hào từ mới dạy cho rằng: địa vị Tứ đã quá cao, trách nhậm Tứ lại quá nặng, thời bao nhiêu việc ích hạ thì ích, chẳng Tứ ghé vai mà ai nữa.

Tứ phải hết sức sắp đặt sửa sang, làm những việc gì tất phải hợp với trung đạo, giữa bản thân Tứ đã hoàn toàn được chữ Trung, thời chẳng những người dưới tin, mà người trên cũng tín nhậm, cáo với Vương công, mà Vương công cũng tin theo.

Tuy ở về thì Ích hạ cần phải làm ích cho nước, vẫn chẳng phải dung dị đâu, nhưng cứ theo một lối trung hành, dầu việc lớn lao, như việc dời Quốc đô, cũng có thể lị dụng đạo trung của Tứ, làm một tay nương tựa, mà cất nổi việc ấy.

Thiên quốc, nghĩa là dời Quốc đô xứ này qua xứ khác.

Như sử ta, vua Lê Thái Tổ, nghe lời Lê Chích mà thiên đô vào Nghệ An.

Trần Đế gặp nạn Mông Cổ, mà thiên đô vào Thanh Hóa. Lị dụng vi y thiên quốc, ý nói việc dầu to lớn như thế, cũng làm nổi, thời việc nhỏ không cần phải nói, ý Kinh không phải hạn định một việc thiên quốc mà thôi đâu.

Tượng viết: cáo công tòng, dĩ ích chí dã.

Đem tâm sự cáo với công, mà công nghe theo, là vì tâm chí mình chỉ cốt làm lị ích cho thiên hạ mà thôi. Ích chí, phải cắt nghĩa ngược, nghĩa là chí mình, chỉ ở nơi làm ích cho thiên hạ.

5. - Cửu Ngũ, hữu phu huệ tâm, vật vấn, nguyên cát hữu phu, huệ ngã đức.

Cửu Ngũ có tài dương cương, có đức trung chính, mà địa vị Sơ xử lại là Quốc trưởng, địa vị ấy mà người tài đức ấy ở vào, thời lòng sốt sắng làm lị ích cho người, thiệt là xuất ư chí thành mà không giả dối, nên nói Hữu phu huệ tâm.

Hữu phu, huệ tâm, nghĩa là có lòng chí thành làm ơn đức. Phu, là chí thành; huệ, là ơn đức. Ngũ đã có lòng phu huệ, thành tắc trứ, trứ tắc minh, chắc là một người rất lành, chẳng cần hỏi, cũng biết là nguyên cát. Tòng lai, lẽ trong thiên hạ, tự mình lấy chí thành cảm động người, tất nhiên người cũng lấy chí thành thân yêu mình.

Lúc bây giờ trong thiên hạ ai cũng tin ngưỡng vào đức Ngũ làm ơn cho mình.

Hai chữ Phu Huệ trên là chỉ vào bản thân Ngũ, hai chữ Phu Huệ dưới là chỉ vào những hạng yêu mến Ngũ; chữ Ngã là chỉ vào những người nhờ Ngũ làm ích cho; chữ Huệ trên, chữ Huệ dưới chiếu ứng với nhau.

Huệ tâm, là tâm của bản thân Ngũ; Huệ ngã đức, là đức của Ngũ làm ơn cho các hạng người, chữ Hữu Phu thời nói chung cả hai bên xuất ư chí thành. Nói về phần Ngũ, thời là không giả dối; nói về bên người thụ ích, thời là không nghi ngờ.

Tượng viết: hữu phu huệ tâm, vật vấn chi hĩ, huệ ngã đức, đại đắc chí dã.

Lòng thành huệ ích cho người, mà đã xuất ư chí thành thời còn gì phải nghi vấn nữa.

Huệ ngã đức, là đức mình làm ơn cho mọi người mà người tín ngưỡng, như thế, là ý chí của Ngũ được thỏa thích lắm vậy. Câu: Huệ ngã đức, vẫn hứng đỡ câu trên, nên không cần thêm chữ Hữu phu. Giả sử: Huệ ngã đức, mà không phải hữu phu, thời lấy gì đại đắc chi được. Hễ đọc Kinh văn, nên hiểu ý ấy.

PHỤ CHÚ: Câu: Đại đắc chí, Thượng Cửu quẻ Tổn với Cửu Ngũ quẻ Ích văn tuy đồng nhau, mà ý nghĩa khác nhau. Thượng Cửu quẻ Tổn sở dĩ đắc chí là vì ở thì Tổn, mà được việc làm ích hạ, nên quân tử cho là đắc chí vậy.

Cửu Ngũ quẻ Ích, sở dĩ đắc chí, là vì ở thì Ích mà được làm ích cho tất thảy loài người, nên quân tử càng đắc chí lắm. Người xưa có nói rằng: Chí của người đời có ba hạng: một là, Chí ư phú quý, là hạng thấp nhất, cũng gọi bằng Hạ lưu; Một là, Chí ư công danh, là bậc cao hơn, cũng gọi bằng Trung Cửu. Duy một hạng chí ư đạo đức, mới là người cao tột mực, mới gọi bằng Thượng Cửu.

Nhưng mà đạo đức cực điểm, tất phải phù trì tất thảy nhân loại, che chở hết thảy đồng bào, như thế, thời chí đạo đức của mình, mới thập phần như nguyện. Tâm sự hào Thượng quẻ Tổn và hào Ngũ quẻ Ích, thảy như thế, vậy nên Tượng truyện chung một câu: Đại đắc chí dã.

6. - Thượng Cửu, mạc ích chi hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung.

Hào này có tính dương cương mà ở hào cuối cùng quẻ Ích, là ích đến cùng cực, nên lòng tham cầu ích, càng không mực không chừng.

Đức Khổng có câu: Hễ người mà cứ nhè vào đường lợi mà đi, thời tất nhiên người oán.

Thầy Mạnh cũng có nói: Nếu cứ mục đích ở làm lị, mà không nghĩ đến nghĩa, thời không cướp hẳn không chán. Tính cương như Thượng Cửu mà lại tham ích quá chừng, tất nhiên ai cũng ghét, còn ai chịu làm ích cho mình, chẳng những không ai làm ích cho mà thôi, e lại có kẻ choảng cho Thượng nữa.

Vì sao nên thế? Bởi: Người ở đời quý nhất là hằng tâm, bây giờ thượng lập tâm đã bất hằng, tất mang lấy xấu. (Hằng tâm, nghĩa là người có lòng thường tốt luôn luôn).

Hào từ này, hệ từ thích nghĩa rất kỹ, mà ý tứ rất bao la, xin biên dịch dưới đây:

Hệ từ nói rằng: Quân tử ở trong đời, đối phó với hoàn cảnh, chỉ cần thiết có ba điều: một là, cách hành động; hai là, lời nói phô; ba là, lời yêu cầu.

Ba điều đó vẫn chung một mục đích, nhưng muốn cho mục đích tới nơi, tất trước phải có chương trình, phương châm.

Chương trình và phương châm thời như thế nào, tất phải như ba câu sau này:

Làm sao cho thân mình được an ổn, mà sau mới hành động, làm sao cho lòng mình được thản dị êm đềm, mà sau mới nói phô.

Làm sao cho giao tình được cố kết chắc chắn mà sau mới yêu cầu, quân tử vì tu tập ba điều ấy, vậy nên được hoàn toàn. Nếu thân mình còn xử vào cảnh nguy hiểm, mà vội hành động, tất nhiên dân không tin theo. Nếu trong lòng mình còn nấp cái cơ sợ hãi, mà dã vội nói phô, thời tất nhiên dân không hưởng ứng, không có giây dao động kết cho thân mật mà đã vội yêu cầu, thời tất nhiên dân không bênh vực. Đã không ai biểu đồng tình với mình, thời những kẻ làm hại mình tới ngay.

Thân chẳng an mà động, ấy là táo động, tâm chẳng dị, mà ngữ, ấy là vọng ngữ, giao chẳng định mà cầu, ấy là si cầu; đủ cả táo, vọng, si, chính là hạng người vô hằng tâm, còn có ai thương tới mình đâu, nên Dịch nói rằng: Mạc ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung. Chữ Nguy phản đối với chữ An, chữ Cụ phản đối với chữ Dị, chữ Vô giao phản đối với chữ Định. Trong ba câu ấy rất khó hiểu là câu: Dị kì tâm, nhi hậu ngữ. Ngữ là có ý như giảng diễn khuyên dạy, cốt tác dụng bằng khẩu thiệt, cớ sao Thánh nhân bảo cho Dị kì tâm.

Chữ Dị, là có ý bằng phản hòa dị.

Bởi vì, lấy ngôn ngữ cảm nhân, là việc đã rất thiển cận. Vậy nên ư khi trước chưa nói phô, tất phải chứa sẵn một tấm lòng hòa bình thản dị, khiến cho người ta tin mình ở trước khi chưa nói. Trái lại, trong tâm mình còn nấp một cái cơ nguy hiểm, hoặc hở một cái mui khuynh trắc, thời trước khi chưa nói, mà dân đã hoài nghi rồi, còn lấy gì cảm động được dân nữa rư?

Xem câu: Cụ dĩ ngữ, tắc dân bất ứng, thời càng hiểu lắm.

Tượng viết: mạc ích chi, thiên từ dã, hoặc kích chi, tự ngoại lai dã.

Đạo lí là cốt ở chí công, không thể thiên về phía nào, múi lị là của chung cả công chúng, không thể thiên về một phe nào, nếu không tấm lòng công ích, mà chỉ thiên về lị kỉ, thời những lời lẽ nhả ra rặt là thiên từ (Thiên: mếch; Từ: lời lẽ). Lời lẽ mà chỉ ra mếch về phía mình, thời tất nhiên người ghét, mà ai chịu làm ích cho, vả lại, những người ở ngoài, xúm nhau lại đánh nữa kìa.

PHỤ CHÚ: Quẻ Tổn và quẻ Ích, chỉ theo về nghĩa tên quẻ, thời Tổn là xấu, mà Ích là tốt, nhưng hào từ Thượng Cửu quẻ Tổn rất tốt, hào từ Thượng Cửu quẻ Ích lại rất xấu, chúng ta xem tới đó, thời biết được Dịch đạo là biến hóa vô cùng, ở vào thì Tổn hạ Ích thượng, mà đến hào Thượng Cửu là Tổn chi cực, thời quay lại lấy tự Tổn Ích hạ làm tốt, nên nói rằng Phất tổn ích chi, dó là biết Tổn đã cực, mà quay buồm chiều gió, nên được cát lị.

Ở vào thì Tổn thượng Ích hạ, nhưng đến hào Thượng Cửu thời lại lấy cầu ích làm xấu, bởi vì, thì Ích đã cực, há lẽ cức cầu ích hoài, vì Thượng Cửu không biết thì nghĩa ấy, mà cứ gạn nước chẳng trừ cợn. Vậy nên mặc lấy hung.

Mới biết rằng: Tổn cùng thời biến, phải chịu tổn mình mà rước lấy ích; Ích cùng thời biến, chớ nên quá cầu ích mà mang lấy Tổn. Kinh Thư có câu: Mãn chiêu tổn, Khiêm thụ ích, nghĩa là, tràn đầy tất nhiên bị đổ, mà mang lấy tổn. Khiêm hư thời nhiều người giúp, mà thụ được ích. Xem gương ở hai hào Thượng Cửu quẻ Tổn, quẻ Ích sẽ biết đạo lí ấy rất đúng.