Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 45 — Trạch Địa Tụy 萃
Trang in 479–487
Quẻ này là quẻ Trạch Địa Tụy. Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch Khôn Địa. Nên tên quẻ đọc bằng Trạch Địa Tụy.
TỰ QUÁI
Tự quái: Cấu giả ngộ dã, vật tương ngộ nhi hậu tự, cố thụ chi dĩ Tụy, Tụy giả tụ dã.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Cấu; Cấu nghĩa là đụng gặp, hễ vật có đụng gặp nhau mà sau mới thành bầy, đã thành bầy tất nhiên nhóm. Vậy nên sau quẻ Cấu tiếp lấy quẻ Tụy. Tụy nghĩa là nhóm họp. Nghĩa tên quẻ đã tường ở Soán truyện, sẽ dịch ra sau.
SOÁN TỪ
Tụy, hanh, vương cách hữu miếu, lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh; dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng.
Tụy, hanh, vương cách hữu miếu.
Tụy, nghĩa là nhóm họp, nhưng ở trong đạo nhóm họp, rất khó khăn và rất huyền bí, là thần với người nhóm họp ở một chốn, nên Soán từ nói rằng: Tụy hanh, vương cách hữu miếu, nghĩa là đã nhóm được bầy người, tất nhiên hanh thông.
Nhưng sở dĩ nhóm được bầy người, tất cốt ở chí thành, mà muốn chứng nghiệm lòng chí thành, tất phải xem ở nơi cảm cách thần linh, nhóm tinh thành ở nơi tôn miếu, mà tinh thần của thần linh cũng phảng phất bên tả hữu mình, ấy là thần với người nhóm nhau ư một chốn, nhà vương tới ở tông miếu, là lấy tinh thành mà nhóm họp được loài vô hình đó vậy.
Lị kiến đại nhân, hanh, lị trinh.
Trên ấy nói: Thần nhóm với người, là thuộc về phần lí luận. Dịch chẳng phải chỉ thuyết lí mà thôi, mà lại nói cho tường đến sự thực, lẽ trong thiên hạ rất khó chỉnh tề là đám đông người, người nhóm lại thời dễ sinh ra mối tranh, rất khó hoàn toàn là đám nhiều việc, hễ việc nhóm lại thời nảy ra sự rối. Vậy nên ở trong đám đông người nhiều việc, tất phải có người Chủ tể mới xong.
Người Chủ tế tức là người đầu bầy, mà chính là người đại tài đại đức, nên lại nói: Lị kiến đại nhân, hanh, nghĩa là, tuy vẫn hanh thông được, nhưng tất phải lị kiến đại nhân, thời đám Tụy đó mới được hanh. Tỉ như: Nhóm người một đảng, tất có người đại nhân làm đảng trưởng, nhóm người một nước, tất phải có đại nhân làm Quốc trưởng, thảy là nghĩa ấy.
Tuy nhiên, ở trong đám Tụy, há phải lị kiến đại nhân mà được hanh đâu, tất phải xem ở nơi chủ nghĩa sở dĩ nhóm, có được chính đáng hay không.
Nếu chủ nghĩa đám nhóm đó mà không chính đáng, tất nhiên ở trong đám ấy, làm sao mà được tụy hanh, nên nói rằng: Lị trinh, nghĩa là, muốn nhóm cho được hanh thông, tất phải đường lối cho chính đáng.
Trái lại, nếu nhóm họp bằng cách bất chính, thời chỉ là hữu danh vô thực, hữu thỉ vô chung, dầu có nhóm được đông người ở trong nhất thì, cũng chẳng làm gì nên.
Dịch lí quý trọng nhất là chữ Thì, Thì đã đến lúc Tụy rồi, về phương diện tinh thần vẫn nên long trọng, mà phương diện vật chất, cũng không thể sơ bạc. Tỉ như: Tế thần, hoặc là tiếp tân khách, vẫn quý trọng thành tâm thực ý, nhưng cũng phải lễ vật phong hậu cho xứng Thì, nên nói rằng: Dụng đại sinh, cát.
Đại sinh, nghĩa là cổ sanh lớn, tế hưởng mà dụng đại sinh chỉ là thiết lời cho tỏ rõ, thì nghĩa nên hậu mà hậu, như thế mới được cát.
Lại còn một lẽ nữa, người ta đã đông đúc, của đã phong phú, chính là nhịp đại hữu vi, hễ những công việc lị dân dụng, hậu dân sinh, tất phải lo tấn hành tiếp tục, cho sự nghiệp được lâu dài phát đạt, nên lại nói: Lị hữu du vãng.
PHỤ CHÚ: Quái từ này xem có ý như hình tán mạn nhưng thích tóm lại, thời ý nghĩa vừa minh bạch và hoàn thiện lắm.
Câu Vương cách hữu miếu, là cốt nhóm họp bằng tinh thần, nên nói lấy tinh thành người mà nhóm họp được thần, thần còn nhóm họp được, huống còn người nữa rư? Đó là căn bản làm nên Tụy.
Nhưng mà: Tụy là nhóm, nhóm mà không người đầu bầy, thời Tụy không xong, nên phải lị kiến người đại tài đại đức, đó là chương trình bắt đầu làm công việc Tụy. Nhóm bầy tất phải có Chúa nghĩa cho chính đáng, sẽ để quần chúng theo đường lối mà đi, nên lại cần phải lị trinh, như thế, tất kết quả được Tụy hanh. Lúc bây giờ lại cần phải dùng đến vật chất, và sắp đặt tiến hành những công việc thiện hậu, sẽ để cho Tụy tụ được lâu dài, nên lại phải dụng đại sinh, cát lị, hữu du vãng. Tổng chi, căn bản thứ nhất là tinh thành, bắt tay vào làm thời phải có chương trình, có Chúa nghĩa, toan đến lúc kết quả, lại phải kiêm có vật chất, với những việc lạc lị về phần sau, chúng ta nhận suốt ý nghĩa như thế thời trên mặt chữ Kinh văn, bất tất quá câu nệ.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã; vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã; lị kiến đại nhân, hanh, tụ, dĩ chính dã; dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh dã; quan kì sở tụ, nhi Thiên địa vạn vật chi tình, khả kiến hĩ.
Soán viết: tụy tụ dã, thuận dĩ duyệt, cương trung nhi ứng, cố tụ dã.
Tụy, nghĩa là nhóm đông được người. Theo về Đức quẻ, Khôn có tính thuận, Đoài có tính duyệt, thuận với lòng người, mà lòng người hòa duyệt, lại bậc trên có đức cương trung tức là Cửu Ngũ mà người ở dưới tất thảy ứng trợ cho. Vì vậy, nên nhóm được đông người.
Vương cách hữu miếu, trí hiếu hưởng dã.
Câu Vương cách hữu miếu, là nói về phần tinh thần, tất phải chí thành chí kính, in như con cháu hiếu đem lòng chí hành chí kính, mà hưởng tổ tiên vậy.
Lị kiến đại nhân, hanh, tụ dĩ chính dã.
Ở trong thì Tụy, mà nhóm họp bằng cách chính đạo, tất nhiên trong nhóm đó có đại nhân, bầy mà có người làm chủ, thời nhóm được đông mà hanh thông vậy.
Dụng đại sinh cát, lị hữu du vãng, thuận thiên mệnh dã.
Sở dĩ nói Dụng đại sinh, cát, lị hữu du vãng, là vì theo thì Tụy mà ứng phó cho hợp với Thì, người nhóm đã đông, sinh sản đã nhiều, thời về đường vật chất không thể keo xẻn được, vả công việc phát triển phải lo tiến hoài, chỉ là thuận đạo trời mà làm vậy.
Nghĩa chữ Mệnh đây, kiêm cả thì với đạo, thuận theo thì trời và đạo trời, tức là thuận thiên mệnh.
Quan kì sở tụ, nhi Thiên địa vạn vật chi tình, khả kiến hĩ.
Xem đạo lí sở dĩ Tụy, thời tình của thiên hạ vạn vật có thể thấy được, Thiên địa có tụy mới nên được công hóa dục, vạn vật có Tụy mới nên được việc hợp quần.
Trái lại, chỉ tan tan tác tác, rời rời rạc rạc, mỗi cái mỗi đường, mỗi người mỗi nơi, tất đến nỗi tương bội tương hại, còn gì là tình Thiên địa vạn vật đâu. Vậy nên, muốn thấy được tình Thiên địa vạn vật, tất phải xem ở chốn Tụy vậy.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: trạch thượng ư địa, Tụy, quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu.
Quẻ này dưới Khôn, trên Đoài. Khôn tượng là đất, Đoài tượng là nước chằm, nước chằm lên trên mặt đất, tượng là nước có chốn nhóm, nên đặt tên quẻ bằng Tụy.
Quân tử xem ở tượng quẻ Tụy mới nghĩ rằng: Hễ nhóm người lại đông thường sinh ra việc tranh nhau, vật nhóm lại nhiều, thường lo có lúc cướp nhau, nên muốn ngăn ngừa cho khỏi cái họa tranh cướp, tất phải trừ nhung khí, để giới bất ngu. Trừ, nghĩa là chứa nhóm, cũng nghĩa là sửa sang; Nhung khí, là những đồ dùng vào việc binh; Bất ngu, là những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra. Chứa nhóm sửa sang những việc binh, răn đe những sự biến chẳng ngừa mà nảy ra, cốt muốn được thường nhóm mà không tan đó vậy.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu, vật tuất, vãng vô cựu.
Hào Sơ Lục này, chính ứng trên có hào Cửu Tứ, Tứ là dương cương; Sơ là âm nhu, cứ lẽ thời Âm Dương đáng tương đắc, tin cẩn nhau cho hữu thỉ hữu chung. Nhưng vì thì Tụy ba âm nhóm nhau ở Nội quái, Sơ Lục vì âm nhu chất nhược, giữ chính không được vững vàng, theo đua với hai hào Âm, mà làm cách nhóm tầm bậy, như thế thiệt là hữu phu bất chung. Có kẻ tin thật với mình, mà mình không tin theo cho đến cùng, đến nỗi rối loạn cách nhóm của mày. (Chữ Nãi trên là động từ; chữ Nãi dưới là đại danh từ. Nãi, nghĩa là mày, chỉ vào Sơ Lục). Người mình đáng Tụy, mà mình không tụy. Thế là nhóm bậy với bầy xằng, là nãi loạn nãi tụy.
Hào từ mới nghĩ giùm cho Sơ Lục một cách mà bảo rằng: Sơ kia ơi! Mày vẫn dở theo lầm bầy tiểu nhân, nhưng mày vẫn có chính ứng của mày kia mà, phỏng khiến mày biết dại, mà hô hào chính ứng của mày, chắc có một tốp kia, xúm nhau cười, nhưng mày thây kệ nó, chớ ái ngại gì, cứ giữ chủ nghĩa mình mà đi theo chính ứng, thời không tội lỗi gì. Nhất ác, nghĩa là một xúm người, là chỉ vào bầy Nhị âm; Vật tuất, là có ý như chẳng quản, nó có cười cũng kệ thây; Vãng, nghĩa là đi theo bạn dương cương.
Tượng viết: nãi loạn nãi tụy, kì chí loạn dã.
Nguyên Sơ Lục với Cửu Tứ, là sẵn có bạn tụy rất chính đáng; vì tâm chí Sơ quá nhu nhược, dễ cho bầy Nhị âm rối loạn được, chí Sơ đã loạn thời nhóm có chính đáng nữa đâu. Vậy nên, nói rằng: Nãi loạn nãi tụy.
PHỤ CHÚ: Từ Nhược hào sắp xuống bốn câu; là dạy vẽ cho Sơ Lục, nhưng không chắc Sơ Lục đã làm được như thế, nên Tượng truyện không nhắc đến bốn câu dưới.
2. - Lục Nhị, dẫn, cát, vô cựu, phu, nãi lị dụng thược.
Lục Nhị âm nhu mà trung chính, thượng ứng với Cửu Ngũ cũng dương cương trung chính, hai hào trung chính ứng với nhau là một đám nhóm rất tốt ở trong thì Tụy. Nhưng còn hiềm địa vị Nhị chen vào giữa Nhị âm, mà Nhị với Ngũ xa nhau, nên Thánh nhân mới răn cho rằng: Nhị ơi! Mày phải biết, người mà mày đã định tụy đó, đủ đức dương cương trung chính, mày nên dắt kéo bạn bầy mày để lên nhóm với Ngũ, thời bản thân mày được tốt lành, mà chúng bạn mày tất thảy không tội lỗi. Tuy nhiên, đạo Tụy cốt nhất là chí thành. Nếu Nhị lấy lòng chí thành và thượng ứng với Ngũ thời Ngũ cũng lấy chí thành mà hạ giao với Nhị, nhóm nhau bằng cách chí thành, thời văn sức chẳng cần gì phiền, vật chất chẳng cần gì thịnh. Ví như: Chí thành tế thần mà dùng một cách đơn giản như lệ tế nhược là vừa xong. Nếu quả được tinh thành như thế, thời có lẽ nhóm được cả thiên hạ, chẳng những Nhị với Ngũ nhóm với nhau mà thôi. Hào từ đây chỉ cốt có hai chữ, chữ "Dẫn" với chữ "Phu". Dẫn là thuộc về thủ đoạn, Phu là thuộc về tinh thần.
Lấy một mình mà dắt kéo cả trên dưới tới nhóm với Cửu Ngũ, là thủ đoạn rất hay. Trước khi chưa nhóm, mà đức trung chính thành thực đã đủ cho người tin, đương khi đã nhóm, mà trọng thành tín, giảm hư văn, càng khiến cho thiên hạ dốc lòng tín ngưỡng, đó là tinh thần rất tốt, đủ nghĩa cho cả hai chữ ấy, nên được Cát vô cựu.
Tượng viết: dẫn cát, vô cựu, trung vị biến dã.
Lục Nhị vẫn ứng với Cửu Ngũ, nhưng ở chen vào khoảng Nhị âm, bây giờ dắt cả Sơ, Tam lên tụy với Ngũ, như thế là đức trung của Ngũ không bao giờ biến vậy. Nếu đức trung có biến, thời còn dẫn được ai.
3. - Lục Tam, tụy như, ta như, vô du lị vãng, vô cựu tiểu lẫn.
Thông thường Tam với Thượng là tương ứng, nhưng Tam âm nhu, Thượng cũng âm nhu, nên Tam có ý không khuynh hướng với Thượng, bởi vì địa vị Tam gần Tứ, Ngũ là hai hào Dương cương nên Tam muốn cầu tụy với Tứ, Ngũ. Nhưng Tứ đã ứng với Sơ; Ngũ đã ứng với Nhị, lại thấy Tam là hạng người âm nhu bất trung bất chính, nên Tứ, Ngũ chẳng thèm nhóm cùng, cầu với Tứ, Ngũ thời họ đã chẳng thèm ứng cầu với Sơ, Nhị; thời họ có chính ứng của họ, họ cũng chẳng ngó, Tam muốn tụy nhóm bao nhiêu, lại càng âu sầu bấy nhiêu, chẳng có gì là tốt đâu, (Chữ Như là trợ ngữ từ). Muốn tụy mà không được, nên phải than thở.
Như thế, thời chỉ có một phương pháp: Ở Ngoại quái có hào Thượng là bạn đồng loại với Tam, vả lại ở vào vị tương ứng, Tam nên tấn lên cầu tụy với Thượng, cũng không tội lỗi gì.
Bởi vì, những người có thế lực đã không chịu ứng với mình, mà có bạn cùng giao ở phương xa, thời mình cũng nên kết nạp.
Ở về thì Tụy mà như thế, Tụy có xấu thẹn chút đỉnh, nhưng về đạo lí phải, vẫn là vô cựu.
Tượng viết: vãng vô cựu, thượng tốn dã.
Hào từ bảo cho Tam, phải tấn lên theo hào Thượng, là vì Thượng có tính tốn thuận, Tam vãng cầu với Thượng, thời Thượng cũng thuận thụ mà ứng vậy.
4. - Cửu Tứ, đại cát vô cựu.
Cửu Tứ có đức dương cương vẫn là người tốt, nhưng sở xử lại vào vị Âm, có hiềm vì bất chính, duy Tứ ở vào thì Tụy, lại thân cận với Cửu Ngũ, là hai hào đồng đức, nên kẻ trên người dưới thảy khuynh hướng vào. Trên thời Cửu Ngũ, dưới thời quần âm, thảy xúm nhau nhóm ở trước Tứ; hoàn cảnh Tứ như thế, thì thế Tứ như thế, muốn cho được hoàn toàn mĩ mãn, há phải dễ đâu! Nên hào từ răn rằng: Tất phải đại cát mới được vô cựu. Chữ Đại cát, là tạo nhân; chữ Vô cựu, là kết quả; nghĩa là: Trước đại cát, sau mới vô cựu. Trái lại, Bất cát thời hữu cựu.
Đại, nghĩa là quy mô cho thiệt rộng lớn, mà chớ chật hẹp; Cát, là hành động cho thiệt tốt lành, mà chớ sai suyễn. Nếu có việc gì sai đạo trái lí, tất là nhóm không được chính, có làm gì được vô cựu nữa rư?
Tượng viết: đại cát vô cựu, vị bất đáng dã.
Hào từ sở dĩ phải có bài răn là vì Dương hào ở vào Âm vị, vị đã bất đáng, nên nghi không được cát chăng? Phải dặn cho rằng: Có được đại cát thời mới được vô cựu.
5. - Cửu Ngũ, tụy hữu vị, vô cựu, phỉ phu, nguyên vĩnh trinh, hối vong.
Quẻ này bốn âm khuynh hướng vào Nhị dương, nhưng Tứ mới bước vào quẻ trên, chứ chưa phải ở vào vị chí tôn, duy Ngũ đã có đức dương cương lại ở vị chí tôn, làm một người Nguyên thủ của thiên hạ, đức rất thịnh mà vị lại rất tôn, chắc người thiên hạ thảy nhóm vào, mà không có gì là tội lỗi.
Vì ở kề cạnh mình có Cửu Tứ, Tứ cũng là một người có giá trị ở trong thì Tụy, thế lực Ngũ e chưa chắc đã thống nhất được, mà nhân tình thì Tụy cũng chưa dễ thống nhất.
Ngũ tuy hữu vị, mà e còn có người chẳng tín phục. Nhưng điều đó chẳng lo gì, vị đã sẵn rồi, thời Ngũ chỉ nên tu đức thêm, đức mình làm cho xứng đáng vị Nguyên thủ, mà lại lâu dài trinh cố. Bất tức, tắc cửu, cửu, tắc trừng, trừng, tắc du viễn. Tinh thành đã đến nơi, thời những người xưa kia chưa phục, bây giờ cũng thảy quy phục, chẳng còn việc gì phải ăn năn. Nguyên, vĩnh, trinh, ba chữ ba nghĩa: Nguyên, nghĩa là làm cho xứng đáng người Nguyên thủ; Vĩnh, nghĩa là lâu dài, mà không nghỉ; Trinh, nghĩa là trinh chính vững bền.
Tượng viết: tụy hữu vị, chí vị quang dã.
Ở thì Tụy mà lại hữu vị như Cửu Ngũ, cớ sao còn Phỉ phu. Là vì chí thành tín của mình chưa quang đại vậy.
Nếu đã tỏ ra đức Nguyên, vĩnh, trinh, thế là Chí quang đại rồi, chắc không còn ai Phỉ phu nữa.
6. - Thượng Lục, tê tư, thế di; vô cựu.
Thượng Lục âm nhu ở vào trên hết thì Tụy, mà lại thì Tụy đã đến cuối cùng, một người tư cách đã tiểu nhân, mà lại xử vào thì vị như thế, muốn cầu Tụy với ai, mà không ai chịu Tụy với mình, chỉ duy than thở khóc lóc, mà không biết trách với ai. Tê tư, nghĩa là than thở; Thế, nghĩa là khóc chảy nước mắc; Di, nghĩa là khóc chảy nước mũi.
Tượng viết: tê tư thế di, vị an thượng dã.
Tượng Lục ở về vị trên cao, nhưng vì tài đức quá hèn hạ, không thể ở an được dằm trên, đến nỗi tê tư thế di, chính là tình trạng của đức tiểu nhân như thế.
PHỤ CHÚ: Chữ Vô cựu đây, với chữ Vô cựu Thượng Cửu quẻ Cấu, nghĩa in như nhau, Vô cựu là kết quả xấu; còn Vô cựu ở mọi hào các quẻ, thời lại phần nhiều là thuộc về kết quả tốt.
Tụy vẫn là một việc rất tốt ở trong loài người, vô luận quốc gia nào, dân tộc nào, xã hội nào, tất phải có nhóm họp đông mới làm nên mọi việc. Vậy nên, Quái từ nói rằng: Tụy hanh, mà sáu hào không thấy chữ Hung, nhưng Quái hào toàn quẻ được chữ Cát, cũng chỉ có ba chữ, là vì cớ sao?
Là vì rằng: Trong sự nhóm họp thường có hai phương diện: một phương diện là có tài chủ động mà nhóm được người, một phương diện là bị động mà nhóm hùa theo người.
Phương diện chủ động, là phần thiểu số, tất phải như Lục Nhị, Cửu Ngũ. Lục Nhị tuy vị còn thấp, mà đức rất cao. Cửu Ngũ, đức đã cao, mà vị lại trỗi, chính như Quái từ nói rằng: Lị kiến đại nhân, mới nhóm họp được người.
Thứ nữa cũng phải như Cửu Tứ, tài đức đã khá tốt, mà địa vị lại xử gần bậc chí tôn, uy quyền ở trong tay, hoàn cảnh lại thuận lị, cũng có thể nhóm họp được người, chính là thì thế tạo anh hùng, mới mong làm nên sự nghiệp Tụy. Vậy nên, Cửu Nhị có chữ Dẫn cát; Cửu Tứ có chữ Đại cát; Cửu Ngũ có chữ Hối vong.
Nếu chẳng thế, vô vị như hào Sơ, hào Thượng, bán Thượng lạc Hạ như hào Tam, mà lại tài đức chẳng hơn ai, thời chẳng những không nhóm họp được người, mà muốn nhóm họp theo người cũng gay go lắm. Vậy nên hào Sơ thời nói: Nãi loạn nãi tụy; hào Tam thời Tụy như ta như; hào Thượng thời Tê tư thế di; chúng ta mới biết có đức mà không vị, vẫn không làm nên Tụy, có vị mà không đức, lại càng không làm được nên Tụy.
Ở vào thì Tụy mà khó tụy như thế, há phải chỉ chắc ở thì thế mà không dòm vào Tư cơ trí tuệ hay sao?
Xem ở trong sáu hào, mà chỉ hai hào có chữ Cát, chúng ta sẽ hiểu.