Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 51 — Bát Thuần Chấn 震
Trang in 539–544
Quẻ này là quẻ Bát Thuần Chấn. Chấn hạ cũng là Nội Chấn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Trên dưới trong ngoài thảy là Chấn. Nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Chấn.
TỰ QUÁI
Tự quái: chủ khí giả mạc nhược trường tử, cố thụ chi dĩ Chấn.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đỉnh tiếp lấy quẻ Chấn, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Đỉnh, Đỉnh là một giống trọng khí, làm chủ giữ trọng khí không ai bằng con trai trưởng. Con trai trưởng tức là Chấn. Vậy nên sau quẻ Đỉnh tiếp lấy quẻ Chấn.
Quẻ Chấn là quẻ Nhất Dương ở dưới Nhị Âm, tượng Chấn là sấm, nghĩa Chấn là động, một hào Sơ quẻ Càn gia hoán với Khôn, thay hào Sơ quẻ Khôn, mà thành Chấn, nên gọi Chấn bằng trưởng nam.
SOÁN TỪ
Chấn hanh; Chấn lai khích khích, tiếu ngôn hách hách; Chấn kinh bách lí, bất táng chủy sưởng.
Theo về Thể quẻ, nhất Dương bắt đầu sinh ở dưới, mà tiến lên lần lần, lại tượng là sấm, sấm phát động mà vạn vật nảy nở, có nghĩa là được hanh thông. Vậy nên nói rằng: Chấn hanh.
Chấn lại có nghĩa là kinh động, thoạt có việc gì mà kinh động tới nơi. Người ta gặp phải sự tình như thế, thời nên cẩn thận kỹ càng, đón trước ngó sau, tỏ rõ ra tinh thần khích khích. (Khích khích, nớp nớp, có ý là không dám an lặng).
Chấn lại mà biết khích khích; như thế, tất không đến nỗi có tai hại gì, mà được cười nói êm ái luôn luôn, ấy là tiếu ngôn hách hách. (Hách hách, nghĩa là đáng êm hòa).
Người ta sở dĩ thất thường mà đến nỗi có tai bay vạ bốc, là chỉ vì trước lúc Chấn lai mà không biết lo sợ, nên sau lúc Chấn lai, mà mắc lấy tai ương.
Nếu biết nghĩa Chấn lai khích khích, thời đã lo sẵn ư lúc trước, tất rước được phúc ư lúc sau, nên Quái từ nói rằng: Tiếu ngôn hách hách.
Bây giờ lại thủ tượng Chấn lai mà nói cho hết đạo ở thì Chấn. Tỉ như tiếng sấm vang động, kinh chuyển đến trăm dặm đất. Nhưng mà tinh thần vẫn trấn tĩnh vững vàng, không đến nỗi kinh động mà mất đồ tế khí. Thế là bất táng chủy sưởng. (Chủy, nghĩa là đũa muỗng, là đồ để tiến soạn; Sưởng, là rượu nghệ, dùng để tế thần).
Không làm mất chủy sưởng, là có ý làm tế chủ mà được vững vàng.
Hai câu ấy là hình dung người lâm biến mà in như thường.
Hễ người ta tinh thần không được vững vàng, thường thột nghe sấm đánh mà thốt nhốt kinh sợ. Bây giờ Chấn kinh bách lí mà bất táng chủy sưởng, thế là tinh thần trấn tĩnh rất mực. Xử vào thì Chấn mà được như thế, mới là Chấn hanh.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Chấn hanh; Chấn lai khích khích, khủng trí phúc dã; tiếu ngôn hách hách, hậu hữu tắc dã; Chấn kinh bách lí, kinh viễn nhi cụ nhĩ dã; Xuất khả dĩ thủ tôn miếu xã tắc, dĩ vi tế chủ dã.
Soán viết: Chấn hanh; Chấn lai khích khích, khủng trí phúc dã.
Lời đức Khổng ở đây, lại phát minh cho rộng nghĩa của Quái từ mà nói rằng: Sở dĩ Chấn lai mà phải khích khích, là muốn cho người ta khủng cụ tự tu, thời sẽ rước được phúc đến cho mình. (Khích khích, là tạo nhân; trí phúc là kết quả).
Tiếu ngôn hách hách, hậu hữu tắc dã.
Xử thì Chấn mà đúng được phép tắc như thế, thời không bao giờ đến nỗi thất thường, chỉ thấy tiếu ngôn hách hách mà thôi.
Bởi vì sau lúc Chấn lai, nhưng vẫn có phép tắc như thường, chẳng vì Chấn lai mà lay chuyển được.
Chấn kinh bách lí, kinh viễn nhi cụ nhi dã; xuất khả dĩ thủ tôn miếu xã tắc, dĩ vi tế chủ dã.
Tiếng sấm vang đến trăm dặm, là uy trời kinh đến chốn xa, mà làm sợ cho chốn gần (Chữ Kinh, chữ Cụ thảy là động từ; Kinh có ý vang thột; Cụ, có ý tổn hại). Câu này chỉ hình dung uy của sấm.
Tuy động uy trời lớn dữ như thế, mà vẫn tinh thần vững vàng. Hạng người được như thế, tất nhiên làm được công việc lớn. Đụng gặp lúc biến cố, mà vua trong nước phải tránh ra ngoài, đem người ấy giữ tôn miếu xã tắc, làm một vị tế chủ cũng là xứng đáng mà không phải lo đổ bể.
Toàn văn của Soán truyện đây chú trọng nhất là ba chữ: Khủng, trí phúc; tòng lai, họa thường nảy ư giữa lúc mình quên, phúc thường sinh ư lúc mình sợ, khi Chấn chưa lại mà đã khủng cụ, tất nhiên khi Chấn lại mà vẫn thường tiếu ngôn.
Người ta nếu cứ giữ một tấm lòng kính úy luôn luôn, bao nhiêu hoàn cảnh đáng sợ đáng kinh, chỉ là một vị thần mở cửa đưa phúc vào cho mình.
Nước Nhật Bản có ông Mục Liên Thái tử, ngày thường đoan tọa niệm Phật, thoạt có lũ cướp toan ác trêu ông, muốn cho ông mất thái độ nghiêm kính, đương lúc ban đêm, ông còn ngồi niệm Phật, lũ cướp hơn mười đứa, thoạt vào quát mắng om sòm, ông ngồi yên không động, không thèm ngó cổ lại, chúng lấy gươm cứa cổ ông, ông cứ niệm kinh như thường; kẻ cướp kinh sợ ông, bỏ gươm xuống lạy ông, tưởng ông là vị Phật sống. Ông nhân đó khai hóa được mười người, thảy quy y Phật môn. Nhật Bản bây giờ xưng ông là Mục Liên Thánh, xem như việc ấy thời Soán từ càng rõ lắm.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: tấn lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cụ tu tỉnh.
Chấn, nguyên tượng là sấm, trên dưới hai lần Chấn, tượng là sấm dồn, là tượng quẻ Chấn. Quân tử xem Tượng ấy, mà trong lòng cũng thường có một cách tấn lôi, khi bình thường vô sự mà cứ lo sợ luôn luôn, dầu có gặp những biến cố gì, thời càng lo xét sửa trong mình.
Tấn lôi, Chấn, là Chấn thuộc về phần trời; khủng cụ tu tỉnh, là Chấn thuộc về phần người. Khủng cụ, là thuộc về tinh thần; Tu tỉnh, là thuộc về phần sự thực.
Tỉnh là xét, thầy Tăng thường ngày có ba việc xét trong mình. Ngô nhật tam tỉnh ngô thân chính là chữ Tu tỉnh ở đây.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, Chấn lai khích khích, hậu, tiếu ngôn hách hách, cát.
Quẻ này nguyên ba nét thuần âm là quẻ Khôn, vì có Sơ Cửu thay vào mà thành được Chấn, nên Sơ Cửu là chủ ở thì Chấn, vả lại ở dưới hết quẻ, là bắt đầu vào thì Chấn, hào từ mới bảo cho rằng: Nếu biết được Chấn đã tới mà kính cẩn lo sợ, thời sau mới được cười nói như thường. Như thế thời Cát.
Nghĩa hào này đã thích tường ở Quái từ, đây chỉ thêm một chữ "Hậu" với một chữ "Cát", lược thích qua là được rồi.
Tượng viết: Chấn lai khích khích, khủng trí phúc dã, tiếu ngôn hách hách, hậu hữu tắc dã.
Nghĩa Tượng truyện đây đã thích trên Soán truyện.
2. - Lục Nhị, Chấn lai, lệ, ức táng bối, tê vu cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc.
Lục Nhị cư trung đắc chính, vẫn là một người khéo xử ở thì Chấn, nhưng vì bản chất là âm, mà địa vị của Nhị lại cưỡi ở trên Sơ Cửu. Sơ vì dương cương muốn lăng bức Nhị, nên Nhị gặp lấy việc chấn động thột nhiên tới nơi, e có cơ nguy lắm, đạc chừng e lại mất của chăng.
(Ức, nghĩa là đạc chừng; Táng, nghĩa là mất; Bối, nghĩa là của thường dùng).
Nói rằng: Ức, nghĩa là chỉ nói đạc chừng, mà chưa phải sự thiệt, vì lo sợ quá, nên phải liệu thế mà tránh xa, e lên đến chín tầng gò cao kia.
(Tê, nghĩa là lên; Cửu lăng, chín lớp gò). Lên đến chốn rất cao, là liệu thế mà tránh Chấn đó.
Tuy nhiên, Nhị với Sơ hướng lai vẫn không thù oán gì, chẳng qua Nhị thấy Sơ khí hăng thế mạnh, mà quá lo như thế.
Nhị vẫn nhu thuận trung chính, chắc sức tự thủ còn dư. Sơ chẳng làm hại gì đến Nhị, nên hào từ lại răn cho rằng: Dầu có mất của mặc lòng, nhưng không cần phải đuổi theo, chờ đến bảy giờ thời lại được. Vật trục, lại có ý cứ để tự nhiên. Thất nhật đắc, là cuối cùng cũng không can hại gì, chữ Đắc là phản đối với chữ Táng. Táng đã mất, đã không táng tức là đắc. Táng bối, tê vu Cửu lăng, là hình dung tinh thần Lục Nhị khiếp sợ. Vật trục, thất nhật đắc, là bảo cho Nhị nên trấn tĩnh êm đềm.
Tượng viết: Chấn lai, lệ, thừa cương dã.
Chấn lai, mà sợ có nguy, vì cưỡi lấy dương cương là hào Sơ vậy.
3. - Lục Tam, Chấn tô tô, chấn hành vô sảnh.
Lục Tam âm ở vị Dương, vẫn là hạng người bất chính, bất chính mà ở vào thì Chấn, nên Chấn bằng một cách tô tô (Tô tô: sợ hãi mà rụng rời, ngẩn ngơ).
Vì Tam là bất chính, nên tình trạng như thế, nếu không dời đổi, e đến nỗi có tai, nên hào từ lại răn cho rằng: Tam nên biết, nhân lúc chấn cụ mà đi tránh xa, thời tránh chốn bất chính mà dời sang chính, tất nhiên không tai họa gì.
Tượng viết: Chấn tô tô, vị bất đáng dã.
Lục Tam sở dĩ Chấn tô tô, là vì địa vị Tam mà hào Âm ở vào, là không đáng vị ấy.
4. - Cửu Tứ, Chấn, tụy nê.
Hào Cửu ở vị Tứ, là Dương cư Âm vị, bất trung bất chính, ở vào thì Chấn động mà đức tính của Tứ đã xấu như thế, lại sụp vào chính giữa bốn hào Âm, nên nỗi say mê chìm đắm, ngộ lấy những việc chấn cụ, lại càng không tự thoát được, chỉ là trót trầm nịch mà thôi. (Nê, là chìm đắm; Tụy, là có ý như trót gặp Chấn mà chìm đắm không thể quay chữa được, nên nói rằng: Tụy nê).
Tượng viết: Chấn tụy nê, vị quang dã.
Dương cương vẫn có tính sáng, nhưng vì Cửu Tứ bất trung bất chính, mà hãm vào giữa bốn hào Âm, làm mất tính sáng của dương cương, nên đến nỗi tụy nê, không lấy gì làm sáng được vậy.
5. - Lục Ngũ, Chấn vãng lai, lệ, ức vô táng, hữu sự.
Hào Lục ở vị Ngũ là ở địa vị trung, vẫn có đức trung sẵn, nhưng ở vào thì Chấn, nên thường có việc Kinh cụ, Chấn vãng thấy nguy, mà Chấn lai cũng thấy nguy.
Lục Ngũ ở lúc bấy giờ, chỉ vững vào mình có đức trung, tính toan lo lường cho khỏi mất đức trung.
Đức trung đã giữ được chặt, thời Chấn vãng lai lệ mặc dầu, mà không có ngại gì, lại có thể làm được việc nữa kia. Chữ Vô táng, là khuyên cho Lục Ngũ giữ lấy đức Trung, chữ Hữu sự là mừng cho Lục Ngũ làm được nổi công việc.
Tượng viết: Chấn vãng lai lệ, nguy hành dã; kì sự tại trung, đại vô táng dã.
Ở vào thì Chấn, mà đến nỗi vãng lai lệ, thiệt là đi đâu cũng thấy nguy.
Nhưng vì Ngũ hay cố thủ lấy đức Trung, thời là vô táng mà lại hữu sự, sở dĩ có công việc cũng nhờ có đức Trung mà thôi, nên nói rằng: Kì sự tại trung, đại vô táng dã.
6. - Thượng Lục, Chấn tác tác, thị quặc quặc, chinh, hung; Chấn bất vu kì cung, vu kì lân, vô cựu, hôn cấu hữu ngôn.
Thượng Lục ở cuối cùng thì Chấn, là Chấn động có thể cực rồi. Vì vậy, là chí ý có tượng mỏi mệt, là Chấn tác tác. (Tác tác: mỏi mệt).
Trông nom có ý bàng hoàng, là thị quặc quặc (Quặc quặc: kinh ngạc).
Người ở lúc bây giờ, chỉ nên yên lặng. Nếu động tác thời mắc lấy hung. Nhưng vì Thượng Lục âm nhu, hào từ khuyên cho rằng: Bản chất như Thượng Lục âm nhu, mà lại gặp phải hoàn cảnh chấn cực. Nếu chỉ chẳng hành động cũng chưa chắc đã khỏi tội lỗi; tất phải có trí khôn, mưu sâu tính xa, lo trước ư lúc Chấn chưa đến giữa bản thân, mới đến cạnh láng giềng, mà ta đã phòng xa đón trước, thấy Chấn ở láng giềng mà tránh được những việc lầm lỗi giữa bản thân.
Tuy nhiên, thường tình người ta thường thấy gần mà không xét được xa thường biết được dĩ vãng, mà không đón đến tương lai.
Thượng Lục tiểu tâm viễn lự được như thế vẫn là hay. Nhưng những hạng bà con với Thượng Lục, e lại có kẻ chê cười. Thượng Lục là người nhát gan, là người độc hiện.
Tượng viết: Chấn tác tác, trung vị đắc dã; tuy hung, vô cựu, úy lân giới dã.
Thượng Lục sở dĩ chấn tác tác, là vì chưa được đạo trung vậy, tuy chính thời hung, nhưng còn mong cho vô cựu, là vì thấy nguy tới láng giềng, mà mình đã biết phòng bị trước, thời cũng tránh khỏi tai sảnh bằng Chấn cực đó vậy.
PHỤ CHÚ: Sáu hào quẻ Chấn, không một hào nào không có chữ Chấn.
Ý Thánh nhân muốn bảo cho người ta, hễ đã đem thân vào đời, thời không một người nào mà không ở trong hoàn cảnh nguy cực. Nên trong sáu hào thảy có chữ Chấn.