Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 53 — Phong Sơn Tiệm 漸
Trang in 554–560
Quẻ này là quẻ Phong Sơn Tiệm. Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn phong, Cấn sơn. Nên tên quẻ đọc bằng Phong Sơn Tiệm.
TỰ QUÁI
Tự quái: Cấn giả chỉ dã, vật bất khả dĩ chung chỉ, cố thụ chi dĩ Tiệm, Tiệm giả tiến dã.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cấn, tiếp lấy quẻ Tiệm, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Cấn, Cấn nghĩa là Chỉ. Vật lí không giống gì là tuyệt đối chỉ. Hễ đã chỉ tất có lúc tiến, chỉ mà nảy ra cũng là tiến. Vậy nên sau quẻ Cấn tiếp lấy quẻ Tiệm. Tiệm, nghĩa là tiến lên. Nhưng tiến lên tất phải tiến lên lần lần, tất phải có thứ tự, nên đặt tên quẻ bằng Tiệm. Quẻ này trên Tốn dưới Cấn, tượng là trên núi có cây. Vật lí tiến lần lần mà có thứ tự rất rõ ràng dễ thấy, không gì rõ bằng cây ở trên núi. Vì tượng như thế, nên tên quẻ đặt bằng Tiệm.
SOÁN TỪ
Tiệm, nữ quy, cát, lị trinh.
Thông lệ ở trong Dịch, hễ các lời quẻ, có khi tùy mỗi Thì, có khi tùy mỗi việc, có khi nói chung cả nghĩa quẻ, có khi nói riêng một nghĩa ở trong quẻ. Còn như quẻ Tiệm là nói riêng một nghĩa ở trong quẻ.
Theo về Tượng quẻ, Cấn chỉ ở dưới, Tốn thuận ở trên, có ý là tiến mà không vội tiến. Việc trong thiên hạ tuy cũng có việc đáng tiến mau, nhân vì cơ hội đã tới nơi, hoặc vì hoàn cảnh xui giục, như những việc hành binh, việc thông tin cũng không thể nhất luật là tiệm mới được.
Duy một việc gả con gái lấy chồng đi về nhà chồng, tất phải tiến có thứ tự, mà không tiến gấp được; nên Quái từ nói rằng: Tiệm, nữ quy cát, nghĩa là con gái theo chồng mà làm một cách bằng Tiệm, thời được Cát.
Bởi vì, đạo của quân tử, tạo đoan hồ phu phụ, nên bắt đầu phải thẩm thận thung dung, mà về phần riêng con gái, lại càng nên Tiệm tiến lắm. Nữ quy mà đúng với cách tiệm tiến, thời con gái ấy mới là trinh chính, được như thế mới là thuận lị, nên Quái từ nói rằng: Lị trinh. Nói trái lại, nếu bất trinh thời bất cát.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Tiệm chi tiến dã, nữ quy cát dã. Tiến đắc vị, vãng hữu công dã; Tiến dĩ chính, khả dĩ chính bang dã; kì vị cương đắc trung dã. Chỉ nhi tốn, động bất cùng dã.
Soán viết: Tiệm chi tiến dã, nữ quy cát dã.
Cách tiến lên mà tiệm tiến như quẻ Tiệm dùng vào việc Nữ quy tất nhiên được cát.
Tiến đắc vị, vãng hữu công dã; tiến dĩ chính, khả dĩ chính bang dã.
Theo ở Thể quẻ, thời bốn hào ở giữa quẻ, Âm Dương tất thảy ở vào vị chính, suy vào Nhân sự, hễ tiến lên mà đúng được chính vị như thế, tất nhiên đi lên mà có công vậy.
Bởi vì, lấy đạo chính mà tiến chẳng những chính được thân gia mà thôi, lại có thể chính được một nước.
Kì vị cương đắc trung dã.
Đây lại nói riêng về Cửu Ngũ, Cửu Ngũ vẫn dương cương đắc trung, mà lại ở vào vị Ngũ là vị chí tôn ở trong quẻ, Tiệm như thế, thời chắc là hữu công và chính bang được.
Chỉ nhi tốn, Động bất cùng dã.
Lại theo về Đức quẻ, Nội Cấn chỉ, là có đức an tĩnh, Ngoại Tốn thuận, là có đức hòa thuận, người ta tiến lên làm việc đời, an tĩnh mà không táo, hòa thuận mà không nghịch. Thế là rất đúng với nghĩa: Tiệm tiến, chắc là tiến động mà không vấp lấy khốn cùng.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: sơn thượng hữu mộc, Tiệm; quân tử, dĩ cư hiền đức, thiện tục.
Cấn là sơn, Tốn là mộc; trên núi có cây, từ dưới thấp lần lần lên cao, đó là Tượng quẻ Tiệm.
Quân tử xem Tượng ấy, lấy cách Tiệm mà tu thân, thời chứa trữ đức Hiền; từ lúc làm sĩ mà bắt chước hiền, từ lúc làm hiền mà bắt chước Thánh, khi đã nên Thánh thời bắt chước cho đến Thiên.
Lại lấy cách Tiệm mà dạy người; đầu từ trong một nhà, một họ, lại dần dần hóa đến một nước, một xã hội, dầm nhân thấm nghĩa, tích lũy hàng năm hàng đời, mới cách được tục hủ xưa, gây nên nền tốt mới, như thế là dùng đạo Tiệm mà cư hiền đức thiện tục. Cư, nghĩa là chứa trữ. Cư hiền đức, là chứa lũy đức Hiền dần lên tới cao.
Chữ Thiện, là động từ, tích lũy công phu dạy dỗ cho thiện được phong tục, dần lên đến cực điểm. Đó là cách Tiệm của quân tử. Cư hiền đức, là đức Tiệm ở nhất thân; Thiện tục, là đức Tiệm đến thiên hạ.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, hồng tiệm vu can, tiểu tử, lệ, hữu ngôn, vô cựu.
Hồng, là một giống chim ở mặt nước, tính nó qua lại thường có mùa nhất định, mùa nóng thời nó bay qua Bắc, mùa lạnh thời nó bay qua Nam, bay thường kết bầy, con lớn bay trước, con bé bay sau, rất có thứ tự. Đúng vào nghĩa quẻ Tiệm, nên sáu hào thảy thủ tượng bằng chim hồng.
Sơ Lục ở vị Sơ là ở dưới hết quẻ, bản chất âm nhu, là tài rất yếu. Vả lại ở trên không có bạn ứng viện. Ở vào thì Tiệm mà tiến chỉ như thế, chắc không tiến được bao lăm, tượng như chim hồng vừa chỉ tiến đến bến nước. (Can, là bến sông).
Nếu những bậc đại nhân quân tử xử vào địa vị ấy, hiểu lí thức thì, xem làm một việc đương nhiên, chưa tiến được thời an lặng cũng là thích. Duy bọn tiểu nhân lũ bé, chỉ thấy ở sự thực mà không hiểu đến thì nghĩa, nên lấy làm nguy cụ, mà có giọng than thở. Tuy vậy mặc lòng, nhưng không việc gì trái với nghĩa Tiệm, nên nói rằng: Vô cựu, nghĩa là: Tiến không được mau, nhưng vẫn không tội lỗi.
Tượng viết: tiểu tử chi lệ, nghĩa vô cựu dã.
Tuy tiểu tử họ có lấy làm nguy lệ, nhưng theo về nghĩa thì Tiệm, thời ở Sơ mà vẫn chưa tiến được vẫn không tội lỗi gì.
2. - Lục Nhị, hồng tiệm vu bàn, ẩm thực hãn hãn cát.
Lục Nhị cư trung đắc chính, ở trên có hào Ngũ ứng với mình, tiến được một cách rất bình ổn thong thả, tượng như chim hồng đã xa khỏi bến nước, mà lên đậu ở hòn đá lớn, thung dung tự đắc, có tượng là ăn uống thảnh thơi (Hãn hãn, là có nghĩa hòa vui).
Như thế, thời Cát.
Tượng viết: ẩm thực hãn hãn, bất tố bão dã.
Hào từ nói rằng: Ẩm thực hãn hãn, thiệt xử một hoàn cảnh rất an bình. Theo về mắt thế tục, thiệt chỉ xem làm đắc thì sung sướng mà thôi, nhưng lòng quân tử há phải thế đâu.
Lấy đạo trung chính của bản thân mình mà giúp đỡ mọi người ở trên mình, chứ không muốn ăn suông mà không làm việc gì.
(Tố, nghĩa là không, không làm việc mà ăn no, tức là Tố bão, cũng như: bất tố xan hề ở Kinh Thi).
3. - Cửu Tam, hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng, bất dục, hung, lị ngự khấu.
Cửu Tam ở trên Hạ quái là Tiệm đã đến vị khá cao, tượng như chim hồng đã tiến đến đất bằng. Hồng, là chim ở nước, bây giờ tiến đến đất bằng, tuy có tiến lên, nhưng không lấy gì làm thích lắm, huống gì ở vào thì Tiệm, mà Tam lại là tính chất dương cương, chắc muốn tiến hoài, mà không biết ngó cổ lại. Như thế, là Phu chinh bất phục. (Phu, là chỉ vào bản thân Tam, chinh, nghĩa là đi; Bất phục, nghĩa là không quay trở lại).
Lục Tứ âm nhu ở trên, thân cận với Tam, toan dắt Tam lên, nhưng Tam, Tứ thảy là bất trung, lại không phải chính ứng với nhau. Bây giờ lấy một cách bất chính mà cẩu hợp, tất nhiên kết quả không ra gì, tượng như Phụ dựng bất dục.
"Phụ, là chỉ vào Tứ; Dựng, nghĩa là có thai; Dục, nghĩa là nuôi được con".
Tứ với Tam kết hợp nhau cũng như thế, kết quả là xấu mà thôi.
Một người làm phu, mà chinh bất phục; một người làm phụ, mà dựng bất dục, giao hợp với nhau bằng cách bất chính, có khác gì trộm cướp nữa đâu, mà gọi bằng Khấu.
Bây giờ nghĩ một phương pháp thiện hậu cho Tam, chỉ nên quay lại đường chính, mà cản ngự món tà. Như thế, là hay biết ngự khấu, thời còn lị.
Tượng viết: phu chinh bất phục, lị quần, xú dã; phụ dựng bất dục, thất kì đạo dã; lị dựng ngự khấu, thuận tương bảo dã.
Phụ chinh bất phục, nghĩa là cứ theo ý riêng mình, mà bỏ mất bầy bạn tốt. Thiệt là xấu vậy.
Phụ dựng bất dục, là vì trái mất đạo chính vậy; Lị dựng ngự khấu, là hai bên phải thuận theo đạo chính để mà giữ gìn cho nhau vậy.
4. - Lục Tứ, hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kì giốc, vô cựu.
Lục Tứ này bản chất âm nhu, tiến lên mà ở trên hào Dương cương. Tứ ở trên Tam, vẫn không phải chốn ngồi an ổn được, tượng như chim hồng bay lên đậu ở cây cao. Hồng là chim ở nước, mà lên đậu ở cây cao, vẫn không được an, nhưng may được nhánh bằng mà đậu. Giốc, nghĩa là nhánh bằng ngang, cây vẫn không phải chốn hồng đậu, nhưng hoặc được nhánh bằng mà đậu, cũng vô cựu.
Bởi vì, Tứ cư chính, mà lại tốn thuận, có lẽ ở cao mà không nguy, nên tỉ dụ bằng Đắc kì giốc.
Tượng viết: hoặc đắc kì giốc, thuận dĩ tốn dã.
Giốc, là chốn đậu được bình an, Lục Tứ mà có tượng đắc giốc, là chỉ vì thuận bằng cách Tốn, thời có lẽ cũng bình an được.
5. - Cửu Ngũ, hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng, chung mạc chi thắng, cát.
Ở trong thì Tiệm, Cửu Ngũ được xử vào địa vị tối cao, mà lại chính ứng là Lục Nhị. Nhị, Ngũ tuy muốn giao hợp với nhau, nhưng mà Tam có ý ngăn đón Nhị, Tứ có ý ngăn đón Ngũ, nên giao tình của Nhị, Ngũ chưa được kết quả vuông tròn, tượng như cưới vợ ba năm mà chẳng thấy công sinh dục. Phụ, là chỉ hào Nhị, Nhị chưa kết hợp được Ngũ nên ba năm mà chưa thấy chửa nghén.
Tuy nhiên, Tam, Tứ rặt là bọn bất chính, không thể địch nổi Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ là bạn trung chính, chẳng qua bị ngăn đón bấy lâu mà thôi, cuối cùng thời bọn nó phải thua Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ kết quả hợp nhau, mà thành được công nghiệp tiệm tiến, nên nói rằng: Chung mạc chi thắng, cát.
Mạc chi thắng, nghĩa là Tam, Tứ phải chịu thua.
PHỤ CHÚ: Theo về Thể quẻ, Ngoại Tốn là Nữ, Nội Cấn là Nam.
Theo về nghĩa hào, Ngũ ở quẻ trên là chồng, Nhị ở quẻ dưới là vợ. Lí Dịch thường biến dịch như thế.
Tượng viết: chung mạc chi thắng, cát, đắc sở nguyện dã.
Nhị, Ngũ trung chính, thanh ứng khí cầu, hai bên biết hợp nhau, vẫn là sở nguyện; tuy trung gian bị Tam, Tứ gián cách, nhưng tà bất thắng chính. Nhị, Ngũ thỉ tuy li, mà chung tất hiệp, kết quả thời Tam, Tứ phải chịu thua, mà sở nguyện của Nhị, Ngũ hoàn toàn viên mãn.
6. - Thượng Cửu, hồng tiệm vu qui, kì vũ khả dụng vi nghi, cát.
Quì, nghĩa là đường mây, mà chốn ở giữa hư không, người ta thường bảo là Vân lộ. Theo như thường lệ, hào Vị ở trong một quẻ, thảy đến hào Ngũ là rất tôn, đến hào Thượng lại địa vị cao hơn hào Ngũ, té ra cao nhi vô vị. Tượng như chim hồng bay tới tuột đường mây, mà không chốn đậu. Nếu ở Thì khác là vô dụng, nhưng thì Tiệm thời tiến đến cực cao, cũng không phải là vô dụng, chính là một hạng người siêu nhiên xuất thế, không làm việc nhân gian, nhưng mà cao tiết thanh phong, tiêu một cái gương cao thượng cho người đời, tượng như chim hồng tuy ở trên mây, vẫn không làm bạn với những món chim lồng, mà cái lông nó rơi ra còn dùng làm được những đồ hành nghi. Vũ, nghĩa là lông chim; Nghi, là cái đồ dùng làm cờ quạt; Vũ nghi, là tỉ dụ bằng thanh giá của Thượng Cửu.
PHỤ CHÚ: Thượng Cửu là một hạng người không sụp vào lưới đời, duy có cao danh kì khí lưu ở nhân gian. Tỉ như: Ông Phạm Viên ở nước ta, ông Thái Qua Nhĩ ở nước Ấn Độ, một người thời lấy cách thần tiên mà khinh miệt cả Vương hầu, một người thời lấy phẩm thanh thơ mà tiêu giao khắp Âu, Á, thiệt là chim hồng bay ở đường mây, mà lông rơi còn dùng được làm nghi biểu đó vậy.
Tượng viết: kì vũ khả dụng vi nghi, cát, bất khả loạn dã.
Hào từ Thượng Cửu là nói một hạng người tiến lên đến cực cao, đứng ra người địa vị của thế tục, mặc dầu khóa lị xiềng danh, không giống gì rối loạn được chí của người ấy, nên hào từ tán cho rằng: Kì vũ khả dụng vi nghi, cát.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc quẻ Tiệm mà biết rằng: Chữ Thì trong Dịch, thiệt là quán thỉ quán chung; chữ Tiệm là Thì chung của Toàn quẻ, tức là Thì chung của một xã hội, sáu hào là Thì riêng của mỗi hào, tức là Thì riêng của mỗi người ở trong xã hội ấy. Vì thì đại riêng khác nhau, nên hào từ ở trong sáu hào, tầng thứ tiệm có trước sau, thang bực tiệm có cao thấp. Sơ vì địa vị quá thấp, nên tiệm vu can. Nhị vì địa vị đã nhích lên, mà tài lại trung chính, nên tiệm vu bàn. Tam vì địa vị bán thượng lạc hạ, nên tiệm tuy khá cao, mà không được an vị, nên tiệm vu lục; Tứ địa vị cũng như Tam, mà tài lại thua Tam, thì sở xử còn đương bấp bỏng, nên tiệm vu mộc, mà lại nói hoặc đắc kì giốc. Chữ Hoặc đắc ở đây in như chữ Hoặc dược ở hào Tứ quẻ Càn. Hoặc dược thời mong tiến mà chưa chắc đã tiến. Hoặc đắc thời mong được mà chưa chắc đã được, chỉ vì Thì còn ở chốn nguy nghi mà phải như thế. Đến Cửu Ngũ thời địa vị cả đắc trung vừa đắc chính, mà lại gặp vừa thì Tiệm đã tối cao, nên tiệm vu lăng, mà chung đắc sở nguyện. Đến Thượng Cửu là thì Tiệm đã đạt ư cực điểm, thiệt là cánh hồng bay bổng tuyệt vời, nên Tiệm vu quì, mà vũ khả dụng vi nghi.
Tổng chi, sáu hào thảy là Hồng cả, thảy ở vào thì Tiệm cả, nhưng vì thì riêng của mỗi hào khác nhau, mà Can, Bàn, Lục, Mộc, Lăng, Quì, cũng khác nhau mỗi hào mỗi vị trí. Đó chính là diệu dụng của chữ Thì, in như sáu hào quẻ Càn; tổng chi là Long cả, vì thì riêng của mỗi hào khác nhau, mà Tiềm, Hiện, Dược, Phi, Kháng cũng khác nhau.
Nói tóm lại, Thì là một vị Thánh sư dạy cho ta làm việc, mà cũng là cỗ xe tốt đẩy cho ta lên đường. Nếu Thì chưa tới, dầu tài đức đến thế nào, cũng khó trước Thì mà làm gắng. Thì nếu đã qua, thời dầu phách lực đến thế nào cũng khó sau Thì mà kéo lại.
Vậy nên, chúng ta muốn làm sự nghiệp tạo Thì, cần thứ nhất là trước phải có cặp mắt xem Thì, mà Thì chung với Thì riêng lại cần cân nhắc lắm.
Nếu Thì chung với Thì riêng đã rập với nhau, dám chắc trong thiên hạ không việc gì khó.