Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Đề Bạt Từ
Trang in 718–720
Dịch giả biên đến cuối cùng sách, ngó lại toàn biên trước sau: Kể Kinh, có Thượng, Hạ nhị thiên; kể Truyện, có thập dực; kể Quẻ, có sáu mươi tư quẻ; kể Hào, có ba trăm tám mươi tư hào. Đạo lí chứa ở trong ấy mang mang như hải, đãng đãng như trời.
Bây giờ muốn xách cuốn cương lĩnh mà tóm tắt ở vài ba trang giấy, thiệt là khó rất khó. Huống gì tự bản thân dịch giả trí thức cạn gần đối với Dịch lí, chẳng qua như người mù rờ voi, người lùn xem tuồng, mà muốn giải thích Kinh văn, phát minh Kinh chí, chẳng khác gì khiến muỗi đội non đâu! Nhưng khổ vì trót đặt thân vào xã hội, đóng một phần tử ở nhân quần. Ăn nhờ ai? Mặc nhờ ai? Ở nhờ ai? mà nỡ ôm gối quanh năm bạn với con mọt giấy, cứu cánh không chút sở đắc gì cống hiến với bà con anh em, thời cái thú vị sinh nhân quá chừng vô vị. Vậy phải đàn tinh kiệt tứ có sở đắc bao nhiêu, thời xin cống hiến bấy nhiêu.
Hơ lưng mặt trời mà xin dâng ấm, ăn rau cần đắng mà xin dâng ngon, gọi là tỏ tấm lòng trung ái với đồng bào mà thôi.
Nay bản sách Chu Dịch Quốc Văn diễn giải vừa xong, xin tổng kết lại mấy câu và trích cử đại khái ở trong Toàn thư mà chia làm ba bộ phận.
Bộ phận thứ nhất: Là tư tưởng nguyên lí của Dịch học hoàn toàn tư tưởng triết học.
Bắt đầu mở sách thời thấy được hai quẻ Càn, Khôn là Vũ trụ chi thỉ; đến cuối cùng sách, thời thấy hai quẻ Khảm, Li hợp thể, là Thủy Hỏa tác dụng mà thành Tạo hóa chi công; cuối cùng hết là quẻ Vị Tế, là Vũ trụ chi chung nhi phục thỉ.
Thuộc về Vũ trụ quan, thời thái cực sinh lưỡng nghi, là Âm Dương, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, sinh sinh mãi mãi cho đến lúc vô cùng.
Thuộc về Nhân sinh quan, thời đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, Âm Dương giao hoán, nam nữ tương cầu mà có Hàm, Hằng, hai quẻ là Nhân Đạo chi thỉ chi chung. Thâm diệu thứ nhất lại ở quẻ Càn có hào Dụng Cửu: "Kiến quần long vô thủ", thấy được tuyệt đối bình đẳng, là chân tính thành của nhân sinh.
Có quẻ Đồng Nhân, Đồng nhân vu dạ, hanh, thấy được đại đồng thực hiện, là đại hạnh phúc của nhân sinh.
Vũ trụ quan như thế, Nhân sinh quan như thế, thiệt là tư tưởng của nhà Triết học rất cao thượng, rất bao la, mà lại thu tóm vào trong ý nghĩa một chữ Dịch.
Bộ phận thứ hai: Là Luân lí đạo đức của Dịch học.
Dịch học là một bộ sách dạy luân lí, vừa có trật tự, vừa có đạo đức, vừa có tinh thần, vừa có quy củ. Càn, Khôn đối lập mà cha mẹ tịnh tôn, sáu con đồng thì bài liệt, mà anh em chị em cho đến vợ chồng lớn bé, danh phận chỉnh tề. Đọc đến quẻ Gia Nhân thời khuôn mẫu tề gia, vừa ân vừa nghĩa. Mà như câu: Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính.
Lại như câu: Nữ chính vị hồ nội, nam chính vị hồ ngoại; nữ với nam tương đối, mà đến phụ với tử, huynh với đệ, phu với phụ hoàn toàn là tương đối, luân lí đến thế, chẳng phải là rất công bình viên mãn hay sao.
Bộ phận thứ ba: Là Nhân sự ứng dụng của Dịch học.
Dịch tuy vẫn là Triết học, nhưng Triết học của Dịch là thực dụng mà không phải là không ngôn, là biến thông mà không phải câu nệ. Như đọc đến quẻ Nhu, quẻ Tụng, quẻ Sư, thời biết được nguyên do chiến tranh sở dĩ khởi. Đọc đến quẻ Phệ Hạp, thời biết được nguyên do hình luật sở dĩ sinh. Đọc đến quẻ Lữ, thời khiến cho những người mất nước bỏ nhà biết đường lui tới. Đọc đến quẻ Cách thời biết được những việc đổi cũ thay mới, biết lối hơn thua. Đọc đến sáu hào quẻ Di, thời biết được sự ăn uống nói phô với nhân cách rất có quan hệ. Đọc đến quẻ Thái, Bĩ, Bác, Phục, thời biết được Thịnh, Suy, Trị, Loạn, bởi trời tạo, nhưng cũng cốt người làm. Đọc đến những lời Tiêu, Tức, Dinh, Hư, thời biết được giàu đói, sang hèn là tương đối mà không phải tuyệt đối. Thảy những loài ấy suốt đầu đến cuối, thời mỗi quẻ có công dụng của mọi quẻ, mỗi một hào có công dụng của mọi hào. Vả lại, tất thảy lời ở Quái hào, nhỏ từ thân một người, lớn đến một xã hội, một thế giới, thảy có lẽ là một phương châm trên đường họa phúc.
Thuận đó, thời được cát; nghịch đó thời mắc hung, làm bổ ích cho nhật dụng nhân sinh, thiệt chẳng phải như những nhà lí tưởng không đàm mà không biết với sự thực.
Vả lại, những sự tình nhỏ nhặt, công dụng tầm thường, như "Đồng ngưu chi cốc" ở quẻ Đại Súc; "Tức lộc vô ngu" ở quẻ Truân; "Kiến thử phụ đồ" ở quẻ Khuê; "Đê dương xúc phiên" ở quẻ Đại Tráng. Lại đến nhân tình ẩn vi, vật tình u ám, như "Nữ tráng vật thú" ở quẻ Cấu; "Lão phu đắc kì nữ thê" ở quẻ Đại Quá; thảy những loài ấy miêu tả hết tình trạng ở nhân gian, óc nhà triết học, mà cả can trường bồ tát, cả thủ đoạn anh hùng, như thế chúng ta lại càng không nên bỏ qua.
Nếu chúng ta mà chẳng phải dòng giống họ da vàng, con cháu nhà Hán học, thời chẳng cần gì ăn cơm nhà mà nói chuyện láng giềng. Nhưng chẳng phải thế, chôn nhau cắt rốn ở phía Nam đám đất Á Châu, mà cớ sao bỏ tủ ngọc kho vàng đồ gia sản tự tổ tiên lưu truyền. Tiền nhân ta như Nguyễn Bỉnh Khiêm (Bạch Vân Am), Đào Duy Từ (Lộc Khê Bá) đã từng dùng đó mà so sánh với Thiệu Khang Tiết, Trương Tử Phòng, thời lẽ nào con cháu ta bây giờ chẳng chịu bớt ít nhiều công phu thì giờ sẽ bươi móc tìm tòi lấy đồ di sản!
Than ôi! Non khơi biển cách, đất quanh trời cao, qua La Mã mà tìm dấu cũ ông Bá Lạp Đồ, vượt Ấn Độ mà ngửi hương tàn đức Thích Ca Như Lai, chưa chắc dấu cũ hương tàn đó đã thiệt hơn hẳn được của di sản của tổ tiên ta hay chưa.
Dịch giả biên sách xin phụ thêm mấy lời này:
1) Nếm máu cũ của tiên nhân mà không dám quên.
2) Phơi tấm lòng với anh em ta mà không dám giấu.
3) Ý kiến có chốn lầm lỗi, chữ nghĩa có nhiều chốn quê mùa.
Xin nhờ các bậc Cao minh bổ chính cho, họa may ngọn đuốc ở giữa đường đi đêm, lá buồm ở trên thuyền vượt biển, bản sách đó cũng nhờ được chút tì ích may chăng?