Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Thuyết Quái Truyện
Trang in 714–717
CHƯƠNG THỨ NHẤT
(Khuyết).
CHƯƠNG THỨ HAI
(Độc tiết).
Tích giả, thánh nhân chi tác Dịch dã, tương dĩ thuận tính mệnh chi lí; thị dĩ lập thiên chi đạo, viết âm dữ dương, lập địa chi đạo, viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa; kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố Dịch lục hoạch nhi thành quái; phân âm phân dương, điệt dụng nhu cương, cố Dịch lục vị nhi thành chương.
Thánh nhân vì sao mà làm ra Dịch, là chỉ muốn cho thuận theo lí tính mệnh, mà mở trí người giúp tạo hóa. Vì vậy Dịch mới làm ra.
Thượng văn đã có câu rằng: Cùng lí tận tính dĩ chí ư mệnh, tính mệnh chi lí tức là lẽ ấy.
Nguyên lai, lí của tính mệnh, có cả thiên đạo, nhân đạo, địa đạo.
Lập nên đạo của Thiên, thời gọi rằng Âm với Dương.
Lập nên đạo của Địa, thời gọi rằng Nhu với Cương.
Lập nên đạo của người, thời gọi rằng Nhân với Nghĩa.
Kiêm cả ba đạo ấy, gọi bằng tam tài, nhưng vì Âm Dương, nhu cương, nhân nghĩa, mỗi một tài tất có hai thể đối nhau. Hai cái ba thành ra lục. Vì vậy mà Dịch thành quẻ tất phải vạch đến sáu nét.
Nhưng ở trong sáu nét đó, phải chia ra ba vị ngẫu là âm, ba vị cơ là dương; hào Lục là nhu, hào Cửu là cương, phải đắp đổi nhau mà dùng. Vậy nên hào ở trong Dịch là phải có sáu vị mà thành chương.
PHỤ CHÚ: Hai chữ Tính mệnh thuộc về phần triết học ở Đông phương, là một vấn đề rất quan trọng.
Theo như Trung Dung, thiên mệnh chi vị tính, thời tính thu nạp vào trong mệnh. Theo như thuyết Quái truyện, cùng lí tận tính, dĩ chí ư mệnh, thời tính với mệnh tự hồ có trước sau.
Nhưng lại theo như Văn ngôn quẻ Càn, các chính tính mệnh, thời lại hai chữ Tính mệnh như hình tương đối.
Lại xem như sách Mạnh Tử có câu: Tính dã hữu mệnh yên, quân tử bất vị tính dã, mệnh dã hữu tính yên, quân tử bất vị mệnh dã.
Thời lại tính mệnh như tuyệt đối tương ly, giải thích cho được chắc chắn, thiệt không khinh dị hạ bút, nhưng bây giờ hãy tạm nói tắt vài lời, tính mệnh nguyên chỉ nhất lí. Nói về phần cụ thể thời gốc ở trời phú cho vật, tổng danh bằng mệnh. Tới khi vật bẩm thụ lấy, mà thành ra sức tri năng, thời lại gọi bằng tính.
Vậy nên Trung Dung lại có câu: Tận kỉ chi tính, tận nhân chi tính, tận vật chi tính, tính có thể phân biệt nhân vật mà mệnh thời tổng mạo vào một chữ Thiên. Nói cho hết lẽ thời hai cái đó, nhất nhi nhị, nhị nhi nhất, thần nhi minh chi tồn hồ kì nhân, học giả chỉ có thể ý hội, mà không thể nào ngôn truyền hết được.
Duy bốn chữ Cùng lí tận tình, thời về môn Triết học tất phải nghiên cứu tới nơi, cùng lí là thuộc về phần tri.
Hễ một sự vật gì, tất có nguyên lí của một sự vật ấy, tìm dò cho đến nguyên lí nó, mới có thể cách vật mà trí được tri.
Tận tính là thuộc về phần hành, mà ở trong tính lại trước phải tận kỉ chi tính, những tính lành thời phú cho ta, ta phải lực hành cho hết phận lượng của nó. Tận được kỉ chi tính rồi, mới xảy ra tận nhân chi tính tận vật chi tính, kết quả thời hợp được Thiên địa, in như lời sách Trung Dung dạy ta. Công phu lực hành có đến tận tính mới thiệt là triệt để.
Nói tóm lại, cơ cùng lí mới hay tận được tính, có làm được tận tính mới hay chứng minh được cùng lí, chẳng bao giờ cùng lí mà không làm được tận tính, cũng chẳng bao giờ tận tính mà không nhờ ở cùng lí, tri hành hợp nhất tức là lẽ ấy.
Chương thứ ba sắp xuống, cho đến chương thứ mười một, chỉ là nói về Tượng của Bát Quái, nhiều chốn không thể hiểu được, nên xin toàn khuyết.
TỰ QUÁI TRUYỆN
Truyện này là nói ý nghĩa sắp thứ tự quẻ, đã phụ dịch vào các đầu quẻ, nên đây cũng khuyết dịch.
TẠP QUÁI TRUYỆN
Truyện này văn nghĩa nhiều chốn khó hiểu, xin tùng khuyết.
HỆ TỪ HẠ TRUYỆN (chung).