Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 11 — Địa Thiên Thái 泰

Trang in 161–174

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Địa Thiên Thái. Càn ở dưới cũng là Nội Càn, Khôn ở trên là Ngoại Khôn. Khôn là Địa, Càn là Thiên. Nên tên quẻ đọc bằng Địa Thiên Thái.

TỰ QUÁI

Tự quái: Lí nhi thái, nhiên hậu an, cố thụ chi dĩ Thái, Thái giả thông dã Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Lí tiếp lấy quẻ Thái, là vì cớ sao?

Bởi vì, Lí, nghĩa là lễ, cũng nghĩa là giày, là đi; giày đi được an ổn, vậy sau mới thỏa thích. Vậy nên sau quẻ Lí tiếp lấy quẻ Thái. Thái, nghĩa là an thích, cũng nghĩa là thông thuận.

Tượng quẻ này, Khôn âm ở trên, là khí Âm thượng đẳng mà giao tiếp với Dương. Càn Dương ở dưới, là khí Dương hạ giáng mà giao tiếp với Âm. Nhị khí giao hòa với nhau, thời vạn vật sinh trưởng mà được thông thái. Nên đặt tên quẻ bằng Thái.

PHỤ CHÚ: Khí Âm Dương nguyên là vô hình, đã vô hình, thời không chỉ rõ ra được. Vậy phải mướn ba vạch quẻ để miêu tả khí vô hình.

Ba nét Càn ở dưới thời thấy là thiên tại hạ, nhưng thiên đó chẳng phải là thiên hữu tượng, mà thiên chỉ là khí Dương.

Ba nét Khôn ở trên, thời thấy là địa tại thượng, nhưng địa đó chẳng phải là địa hữu hình, mà địa chỉ là khí Âm.

Khí Âm thông lên, khí Dương thông xuống. Thế là Âm Dương hòa hiệp, Thiên Địa tương giao. Nên đặt tên quẻ bằng Thái.

Nếu như Thiên địa hữu hình, mà Địa trên Thiên dưới, té ra Thiên Địa điên đảo, chính như câu người ta thường nói: Huyền hoàng dịch vị, lại còn thành ra thế giới gì nữa, xin ai học Dịch chớ nhận lầm. Trái lại, Thiên thượng Địa hạ, mà nói rằng: Bỉ, cũng ý nghĩa như thế.

SOÁN TỪ

Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh.

Ý nghĩa tên quẻ sở dĩ đặt bằng Thái, đã thích rõ như trên ấy. Đây chỉ thích nghĩa Quái từ.

Tiểu chỉ vào Âm; đại chỉ vào Dương; vãng, là qua ở phía ngoài; lai, là lại ở phía trong.

Quẻ này: Ba Âm ở Ngoại quái, là Âm qua ở ngoài; ba Dương ở Nội quái, là Dương lại ở trong. Theo về hình tượng ở trên mặt quẻ, có hai ý nghĩa: một là, Dương là khí trời hạ giáng, mà giao với đất, Âm là khí đất thượng thăng mà giao với trời, trời đất giao với nhau là Âm Dương hòa sướng, thời vạn vật sinh thành. Đó là Thái thuộc về Thiên đạo; lại một nghĩa thuộc về Nhân sự: Đại, là quân thượng, tượng như Càn; Tiểu, là thần hạ, tượng như Khôn. Khôn thượng, tức là phe thần hạ đem hết tinh thành mà cung cấp cho quân thượng. Càn hạ, tức là phe quân thượng ti dáng thân thể mà chiều đãi thần hạ: cũng là tiểu vãng, đại lai, mà thành được Thái ở việc nước.

Lại nói rộng ra đến việc thiên hạ, bao nhiêu Dương là quân tử, bao nhiêu Âm là tiểu nhân. Càn ở Nội quái, tượng là quân tử đắc thế, mà dụng sự tại Nội; Khôn ở Ngoại quái; tượng là tiểu nhân thất thế, mà lánh xa tại ngoại. Đó cũng là tiểu vãng, đại lai, mà thành được Thái ở trong thiên hạ.

Thiên thì Nhân sự đã thảy được như thế mới là tốt lành và hanh thông.

PHỤ CHÚ: Học giả đọc Dịch hết quẻ này, nên nghiên cứu lẽ Âm Dương tiêu trưởng ở trong Dịch. Ở trong Vũ trụ tuần hoàn biến hóa, dầu không gian hay thì gian, kể dọc từ vô thỉ đến vô chung, kể ngang từ Nam cực đến Bắc cực, chẳng biết bao nhiêu là việc phúc họa, lành dữ, thịnh suy, trị loạn, rút cùng lại thời chỉ có Âm Dương đắp đổi nhau tác dụng mà thôi.

Lệ trong Dịch, Dương là minh, Âm là ám; Dương là thực, Âm là hư; Dương là phú, Âm là bần; Dương là quý, Âm là tiện; Dương là đại, Âm là tiểu.

Ở trên mặt chữ vẫn có phân biệt như thế, nhưng theo về chí ý của Dịch, Âm và Dương vẫn đắp đổi nhau mà tác dụng, chẳng bao giờ cô dương mà sinh, cũng chẳng bao giờ độc Âm mà thành, Âm tất nhờ có Dương mà thành, Dương tất nhờ có Âm mới sinh.

Vẫn là lẽ tự nhiên, vạn cổ bất dịch, nhưng đó chỉ luận lí mà thôi, đến như nói sự thực, thời phúc hay họa, lành hay dữ, lại kết quả vì âm tiêu trưởng tranh nhau mà sinh ra, lẽ ấy quan hệ rất lớn.

Vì cớ sao vậy? Dương có tượng là quân tử, Âm có tượng là tiểu nhân. Hễ những người nhân cách quang minh chính đại là quân tử, mà thuộc về phần Dương. Hễ những người nhân cách nhu hiểm ti tà là tiểu nhân, mà thuộc về phần Âm. Về phần Thiên đạo, chẳng bao giờ Âm Dương thiếu một phía mà thành được; về phần Nhân sự chẳng bao giờ quân tử tiểu nhân thiếu một phía mà làm được.

Nhưng mà múi manh quan hệ thời cốt ở tiêu trưởng về phía nào? Dương trưởng, Âm tiêu thời thiên đạo mới thái được. Quân tử trưởng, tiểu nhân tiêu thời nhân sự mới thái được.

Trái lại, Âm trưởng, Dương tiêu, thời Thiên đạo bỉ: tiểu nhân trưởng, quân tử tiêu, thời Nhân sự bỉ. Dịch là dĩ thiên đạo minh nhân sự. Vậy nên có hai quẻ Thái và Bỉ.

Hai quẻ ấy thảy ba nét Âm ba nét Dương, hai bên vẫn cân địch nhau. Nhưng vì quẻ Thái thời Dương đương lúc trưởng thịnh, mà Âm đã đến lúc tiêu mòn, tượng là quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu, thời thành ra Thái.

Trái lại, quẻ Bỉ thời âm dương, lúc trưởng thịnh mà Dương đã đến lúc tiêu mòn, tượng là tiểu nhân đạo trưởng, mà quân tử đạo tiêu. Nên thành ra Bỉ. Nhân quả rất hiển nhiên, nhưng chúng ta muốn chứng minh cho rõ lí Âm Dương tiêu trưởng, thời phải giải thích như thế này:

Nguyên thuần Âm là quẻ Khôn, là Âm thịnh chi cực, cực thời phải tiêu, nhân đó một nét dương thay vào dưới Khôn Sơ, thành ra quẻ Phục. Phục là nhất Dương mới sinh, sinh đến hai nét, thành ra quẻ Lâm. Quẻ Lâm là quẻ Khôn biến đến hai nét, là Nhị dương đã tiệm trưởng, từ đó Dương trưởng lần lần, mà Khôn âm biến đến ba nét, thành ra quẻ Thái. Nên quẻ Thái có tam dương ở Nội quái, mà thành ra Nội Càn, Ngoại Khôn. Xem như tằng thứ quái biến, thời Dương có thể chiếm phần ưu thắng, Âm có cơ chịu đường liệt bại. Vì thế mà Dương trưởng hoài, Âm tiêu hoài. Dương trưởng đến bốn nét thời thành quẻ Đại tráng, Âm chỉ còn hai nét mà thôi, Dương lại trưởng thêm đến năm nét thành ra quẻ Quải, Âm chỉ một nét mà thôi. Chốc thời Khôn biến cả sáu nét, mà toàn sáu nét hóa ra Dương, thành quẻ Bát Thuần Càn. Càn là Dương trưởng chi cực, trưởng cực tức phải tiêu, mới có một Âm thay vào dưới Càn Sơ, thành ra quẻ Cấu, Cấu là nhất Âm mới sinh, từ đó sắp đi Âm sinh lần lần, Dương tiêu lần lần, quẻ Cấu sang quẻ Độn, quẻ Độn sang quẻ Bỉ, đến quẻ Bỉ, Âm có thể chiếm phần ưu thắng, Dương có cơ chịu đường liệt bại, tiêu cứ tiêu lần lần, trưởng cứ trưởng lần lần. Trải qua quẻ Quán, quẻ Bác, thời đến nỗi Dương mòn hết, mà tất thảy sáu nét dương biến hết, thành ra Bát Thuần Khôn; lại là Âm thịnh chi cực. Nhất tiêu nhất trưởng, nhất trưởng nhất tiêu, thử trưởng tắc bỉ tiêu, thử tiêu tắc bỉ trưởng, chính là diệu dụng của Tạo hóa, mà cũng là tính lí của Dịch học.

Chúng ta chớ thấy mấy vạch đứt, vạch liền mà xem làm đồ vô dụng.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: thái, tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã, thượng hạ giao nhi kì chí đồng dã; Nội dương nhi ngoại âm, nội kiện nhi ngoại thuận, nội quân tử nhi ngoại tiểu nhân, quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu dã.

Soán viết: Thái, tiểu vãng đại lai cát hanh, tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã, thượng hạ giao nhi kì chí đồng dã.

Xem Soán từ rằng: Thái, tiểu vãng đại lai cát hanh. Thế thời trời đất giao với nhau, mà vạn vật được thông vậy.

Suy vào việc người, trên dưới giao với nhau, mà chí ý cả hai bên đồng vậy. (Chữ Kì: đại danh từ cả hai bên).

Nội dương nhi ngoại âm, nội kiện nhi ngoại thuận, nội quân tử nhi ngoại tiểu nhân, quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu dã.

Xem thể quẻ ba nét Càn ở trong, ba nét Khôn ở ngoài, thế là khí Dương ở trong, khí Âm ở ngoài, tính cương kiện ở trong, mà tính nhu thuận ở ngoài, Âm Dương là khí của Càn Khôn, kiện thuận là đức của Càn Khôn. Lại theo Thể quẻ mà nói vào Nhân sự, thời ba Dương ở Nội quái, tượng là quân tử dụng sự tại nội, ba Âm ở Ngoại quái, tượng là tiểu nhân thừa hành tại ngoại, Dương càng ngày càng trưởng thêm, là đạo quân tử càng ngày càng lớn thêm, Âm càng ngày càng tiêu lần, là đạo tiểu nhân càng ngày càng suy lần. Có như thế mới thành được Thái.

PHỤ CHÚ: Chữ Dương, Âm là thuộc về phần khí. Chữ Kiện, Thuận là thuộc về đức tính. Chữ Quân tử, Tiểu nhân là thuộc về phần loài người.

Đọc Soán truyện đây, rất quan hệ là câu: Quân tử đạo trưởng, tiểu nhân đạo tiêu. Theo tâm lí Thánh nhân, vẫn trông mong cho người đời rặt là quân tử, nhưng việc ấy không thể nào làm được. Hễ đạo trời đã có Dương tất cũng có Âm. Vậy nên loài người đã có quân tử tất cũng có tiểu nhân. Chỉ duy quân tử đứng vào địa vị chủ động, thời đạo quân tử được trưởng, tiểu nhân đứng vào địa vị bị động, thời đạo tiểu nhân phải tiêu. Như thế, thời đạo đời được hanh thái.

Quân tử chỉ là người tốt, vì sao lại đặt tên bằng Quân tử?

Nguyên thuở xưa đặt danh từ ấy, còn chú trọng về luân lí đời xưa. Ra gánh việc quốc gia, thời đúng tư cách một người vì quân, ở trong gia đình thời đúng tư cách một người vì tử. Thế là hạng người làm bậc trên cũng tốt, làm việc dưới cũng tốt, góp cả hai nghĩa ấy mà đặt tên, nên gọi bằng quân tử, mà cũng là một người đúng tư cách làm người. Nếu gọi bằng Thánh nhân cũng có thể được.

Chữ tiểu nhân thời không ý nghĩa gì sâu xa, chỉ là một hạng người âm hiểm ti bỉ chẳng xứng đáng tư cách làm người. Vậy nên gọi bằng tiểu nhân.

Nguyên lai, ý nghĩa chữ nhân lớn lắm. Nhân là phối địch với Thiên Địa mà làm Tam tài kia mà, nay nó chỉ loài tiểu mà thôi, chẳng xứng đáng được nhân. Nên gọi bằng tiểu nhân. Còn như sách vở các chốn khác, cũng có lúc nói bằng địa vị mà chia làm quân tử, tiểu nhân. Nghĩa là: Quân tử là bậc trên, tiểu nhân là bậc dưới, nhưng đó chỉ nghĩa hẹp mà thôi, chẳng phải thật ý nghĩa quân tử tiểu nhân. Chúng ta đọc sách chớ câu nệ những chữ ấy.

Lại theo miệng thế tục, có một danh từ tiểu nhân là người bé, tương đối với đại nhân là người lớn, trái hẳn với chữ tiểu nhân ở đây.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: thiên địa giao Thái, hậu dĩ tài thành thiên địa chi đạo, phụ tướng thiên địa chi nghi, dĩ tả hữu dân.

Thích nghĩa chữ một: Tài, nghĩa là xén cắt; Thành, nghĩa là tròn khéo; Phụ tướng, nghĩa là giúp đỡ; Đạo, nghĩa là nguyên tắc; Nghi, nghĩa là phương pháp; Tả hữu, nghĩa là bênh vực đề huề.

Bây giờ mới thích toàn văn.

Hình thiên vẫn ở phía trên, bây giờ Càn hạ là Thiên khí hạ giao với địa. Hình Địa vẫn ở phía dưới, bây giờ Khôn thượng là Địa khí thượng giao với Thiên. Thiên địa giao mà Âm Dương hòa, thời vạn vật sướng đạt cả thảy, ấy là Thái.

Người Nguyên thủ ở trong một nước gọi bằng hậu, chính là người có quyền thay gánh của trời đất. Nên phải thể lòng trời đất sinh thành vạn vật, mà lo bổ cứu những chốn khuyết hám cho trời đất, tỉ như: thì trời có nóng lạnh, hình đất có cao thấp, nhưng tựu trung có thái quá, có bất cập, thời Thánh nhân nhân đó mà sửa sang xét cắt, khiến cho đâu đó cũng vuông tròn thành tựu, ấy là tài thành Thiên địa chi đạo.

Lại tỉ như: Mùa Xuân phát sinh vạn vật, mùa Thu thành thục vạn vật, Thánh nhân cũng nhân thiên thì tự nhiên, mà dạy cho người ta mùa Xuân cày, mùa Thu gặt.

Lại tỉ như: Chốn đất cao thích trồng cây, chốn nước sâu tiện thủy lị, Thánh nhân nhân địa thế tự nhiên, mà dạy cho ta cách làm rừng, nấu muối, như những việc ấy, v.v... là phụ tướng thiên địa chi nghi.

Đạo, là nguyên lí tự nhiên; Nghi, là thuộc về sự lí đương nhiên; Thánh nhân hết lòng hết sức xem xét ở hai lẽ ấy mà đưa ra thực hành, cốt cho dân sinh được đầy đủ, dân dụng được tiện lợi, sẽ để phù trì cứu hộ dân, ấy là tả hữu dân. Như thế, là công việc của Thánh nhân làm ra Thái, cũng như Thiên địa giao mà thành Thái đạo.

PHỤ CHÚ: Xem suốt từ Càn Khôn sắp xuống quẻ Lí, bình quân nét Âm nét Dương, bên nào cũng ba mươi nét vạch. Thế là Âm Dương chẳng bên nào quá, chẳng bên nào bất cập, chung sức với nhau mà thành công Tạo hóa. Vậy nên được Thái.

Khi đã được Thái rồi, thời chỉ lo: cái gì thái quá thời phải hạn chế lại, cái gì bất cập thời phải bổ trợ thêm. Vạn sự các đắc kì trung, vạn vật các đắc kì sở, ấy là công hiệu Thánh nhân tài thành phụ tướng mà được như thế.

Trái lại, dầu thiên thì làm ích cho người, địa lị làm lợi cho người, nên không phương pháp tài thành phụ tướng, khiến cho thỏa thích bình quân, tất nhiên có thái quá, có bất cập, hiện ra vô số tình hình bất bình đẳng ở trong xã hội. Hoặc giàu quá chừng giàu, hoặc đói quá chừng đói, hoặc sướng quá chừng sướng, hoặc khổ quá chừng khổ, hoặc người trên quá chừng áp chế người dưới, hoặc người dưới quá chừng ghen ghét người trên. Tổng chi, vì không cách tài thành phụ tướng để tả hữu dân mà thôi.

Hai chữ Tả, Hữu rất có ý vị. Tỉ như: giống gì quá mếch về tả, thời ta sửa lại cho sang hữu chút đỉnh, giống gì quá mếch về hữu thời ta sửa lại cho sang tả chút đỉnh, cốt làm cho ai nấy cũng thỏa thích sở nguyện cho được sở cung vừa cấp sở cầu, chính là nghĩa chữ Tả, Hữu.

Chữ Tả, Hữu, nếu theo danh từ mà giải thích thời có nghĩa: Tả là trước, Hữu là sau, Tả là cao, Hữu là thấp. Nhân nhích sắp đặt trước sau cao thấp, khỏi tệ chênh lệch bất bình, tức là Tả hữu dân.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Cửu, bạt mao như, dĩ kì vị, chinh cát.

Bạt, nghĩa là tút; Mao, nghĩa là bụi săng; Như, nghĩa là ngùm rễ; Vị, nghĩa là bầy loài; Chinh, nghĩa là tấn lên.

Hào Cửu ở vị Sơ, là một hạng người có tài cương minh mà còn ở vị thấp.

Vì ở thì Thái, ba hào dương ở Nội quái, chính là một bầy quân tử dắt nhau mà lên. Sơ tuy ở vị thấp, nhưng cặp với hai vị trên đồng thì tịnh tấn. Tượng như tút ngùm rễ săng, vừa tút một cây mà cả ngùm lên hết. Quân tử ở đời Thái, cũng dắt nhau lên như thế, còn có việc gì làm chẳng xong.

Bạt mao như, dĩ kì vị, là tỉ dụ bằng quân tử tịnh tấn, là tạo nhân của thì Thái. Chinh cát, tức là kết quả.

Tượng viết: bạt mao chinh cát, chí tại ngoại dã.

Bạt mao, chinh cát, là tam dương đồng chí với nhau, muốn thượng tiến ở Ngoại quái; là đảng quân tử đồng chí tiến với nhau, muốn ra gánh việc thiên hạ.

Chữ ngoại theo ở mặt quẻ, thời chỉ quẻ trên, theo về ý Thánh nhân, thời ngoại là thiên hạ. Xưa nay Thánh hiền quân tử sở dĩ gặp thì câu tiến, dắt nhau kéo lên, há vị nhất thân nhất gia đâu.

Nguyên hoài bão các ngài, nhỏ thời việc nhất quốc, lớn thời việc nhất xã hội; nhỏ thời việc dân, lớn thời việc cả thế giới, hoàn toàn ở ngoài thân gia mình, nên nói rằng: Chí tại ngoại.

2. - Cửu Nhị, bao hoang, dụng bằng hà, bất hà duy, bằng vương, đắc thượng vu trung hàng.

Hào từ này đạo lí rất hoàn toàn, quy mô rất đầy đủ. Nhưng vì văn tự quá tinh thâm, nên khó giải, xin học giả chịu khó mà nhận cho kĩ.

Bao, nghĩa là bọc; hoang, nghĩa là uế tạp, cũng nghĩa là phiền rối; bằng hà, nghĩa là mình truồng lội qua sông; hà, nghĩa là xa, cũng nghĩa là sơ viễn; bằng, nghĩa là phe phái về mình; vương, nghĩa là quên hẳn; thượng: phối hợp, cũng nghĩa là vừa đúng; trung, đắc trung; hàng, nghĩa là đường đi, dùng vào đây thời hàng là đạo.

Cửu Nhị dương cương đắc trung, vẫn là một bậc quân tử; gặp thì Thái, trên có vị Nguyên thủ là Lục Ngũ, nhu thuận đắc trung, hạ ứng với Nhị, thượng hạ đồng đức mà suy thành tương tín với nhau.

Vì Lục Ngũ nhu thuận, tài vẫn thua Nhị, nên phải hết lòng tín nhiệm Nhị, Nhị mới là tay chủ động ở thì Thái.

Sinh gặp hoàn cảnh như thế, lại chung quanh có hai dương đồng chí với mình, dắt nhau ra gánh việc tế thế an bang, trách nhiệm đã quá chừng lớn, tất thủ đoạn phải quá chừng giỏi, mà đạo đức cũng phải quá chừng cao, nên công việc tác dụng có bốn câu như dưới này:

Một là, kể về độ lượng, hai là, kể về khí phách, ba là, kể về kế hoạch, bốn là, kể về công đức, công tâm. Bốn đức ấy lại phải tất thảy cho đúng với đạo trung.

Nay thích điều thứ nhất:

Bao hoang:

Vì thì đại mới bước qua vào Thái, mầm mới tuy đương lên, mà rác cũ vẫn chưa quét sạch. Nếu người độ lượng chật hẹp, e đến nỗi tật ác thái thậm, trừ tệ thái cấp, hay hóa ra dở cũng có lẽ. Vậy nên xử vào thì này, gánh công việc trí Thái, tất phải có độ lượng cho lớn rộng, sẽ bao bọc được những loài uế tạp, khử tiểu nhân, trừ tệ chính làm bằng một cách thung dung. Thế thời dụng nhân mới được đủ tài, mà làm việc mới có thứ tự, ấy là bao hoang.

Thích điều thứ hai:

Dụng bằng hà:

Xưa nay những người độ lượng khoan hồng, thường mắc lệ nhân nhu bất đoán. Huống gì đương thì Thái, phá hoại vừa xong, bắt đầu kiến thiết. Những việc đỉnh tân cách cố, nhiều hạng người thủ thường tuần cựu, sinh ra tệ du dự nhân tuần, tất phải dùng bằng một cách cương đoán, đủ cả gan mạo hiểm, rán hết sức tấn thủ. Ngộ việc đáng quyết thời quyết ngay, tượng như người có gan liều, truồng mình qua sông mà chẳng khiếp sợ. Nên nói rằng: Dụng bằng hà. Câu ấy là mướn cách thí dụ, để hình dung tài cương quả, chứ chẳng phải như câu: Bạo hổ bằng hà ở trong sách Luận Ngữ.

Thích điều thứ ba:

Bất hà duy:

Tùng lai, những người có độ lượng khoan hồng, thường hay tính việc lớn mà quên việc nhỏ, có khí phách cương quả, thường nóng nảy mà chẳng kịp tinh tường. Muốn tránh khỏi những tệ bệnh ấy, tất phải mưu lự cho cẩn mật, kế hoạch cho tinh tường. Dầu những việc xa khơi nhỏ mọn, mà cũng chẳng bao giờ để sót thiếu. Ấy là: Bất hà duy.

Đức Khổng có câu: Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu. Nghĩa là, người không tính nghĩ điều xa, tất có điều nguy hiểm gần.

Ông Tôn Chân Nhân có câu: Đởm dục đại, nhi tâm dục tiểu. Nghĩa là, gan làm việc muốn cho lớn, mà lòng nghĩ việc muốn cho nhặt.

Trên ấy nói: Dụng bằng hà là đởm đại; Bất hà duy là tâm tiểu viễn lự.

Thích điều thứ tư:

Bằng vương:

Công việc xử Thái như ba câu trên, nhưng còn lo sợ vì họa bằng đảng. Bởi vì, thì Thái, đảng quân tử tuy vẫn nhiều, nhưng đạo trì Thái, tất phải đại công vô tư. Hễ người nào có điều tốt thời ta dùng, người nào có điều xấu thời ta bỏ, cứ một lối công bình chính trực, mà ứng phó với người đời, quên hẳn cả phe phái với mình, mà chẳng tí gì thiên tư thiên vị, ấy là Bằng vương.

Đức Khổng có câu: Quân tử chu nhi bất tỉ. Nghĩa là: đạo quân tử rộng lớn công bình, mà chẳng thiên tư.

Lại có câu: Quần nhi bất đảng, nghĩa là: kết chúng làm bầy mà chẳng phe riêng với ai. Bất tị bất đảng, chính là nghĩa chữ Bằng vương.

Nay lại thích câu kết thúc:

Đắc thượng vu trung hàng:

Gánh trách nhiệm trì Thái mà đã đủ được bốn điều như trên, vẫn đã hoàn toàn thiện mĩ. Nhưng Thánh nhân còn lấy làm lo, là vì sự lí trong thiên hạ, quý nhất là đúng chữ trung.

Nếu bao hoang mà thái quá, thường đến nỗi phù phiếm hỗn tạp. Dụng bằng hà mà thái quá, thường đến nỗi táo cấp vọng động.

Bất hà duy mà thái quá, thường đến nỗi tẳn mẳn rù rờ. Bằng vương mà thái quá, thường đến nỗi thất quần cô lập.

Thánh nhân mới đinh ninh dặn rằng: Bao hoang mà chẳng phải không kén chọn, dụng bằng hà mà chẳng phải không kĩ lưỡng; bất hà duy mà vẫn chẳng làm những việc vu khoát; Bằng vương mà vẫn cũng thân người hiền, viễn người gian. Như thế mới thích hợp ư đạo trung.

PHỤ CHÚ: Cửu Nhị với Lục Ngũ, trung đức tương tế, tâm chí đã đồng, mà cảnh ngộ lại thuận, làm nên việc Thái, chắc chẳng khó gì, nhưng mà hào từ lại phản phúc đinh ninh đến như thế. Bởi vì, họa thường nấp ở khi phúc, loạn thường sinh ở khi trị, nên lúc bước lên vũ đài kinh dinh việc xử Thái, tất phải người đủ đức đủ tài như thế mới xong. Nếu chẳng thế, thời giữa phúc mà họa xảy ra, giữa trị mà loạn sinh ra, cũng là lẽ thường.

Tượng viết: bao hoang, đắc thượng vu trung hàng, dĩ quang đại dã.

Tượng truyện trích cử một câu đầu, một câu cuối của Hào từ, mà thích góp cả toàn văn nói rằng: Cửu Nhị sở dĩ được thế, là vì có đạo quang minh viễn đại, mới làm nên được sự nghiệp Thái vậy.

Nếu những hạng người ám muội hiệp tiểu, thời chẳng làm gì nên Thái.

3. - Cửu Tam, vô bình bất bí, vô vãng bất phục, gian trinh vô cựu, vật tuất, kì phu, vu thực hữu phúc.

Hào từ hào này cũng một lẽ biến hóa ở trong Kinh Dịch. Hào Cửu, vị Tam chính là trùng cương bất trung. Theo như quẻ khác thường chẳng được tốt; duy Cửu Tam ở đoạn giữa thì Thái, lại ở trên hai hào Dương, chính là một bậc đàn anh ở trong quân tử, vẫn chẳng phải lo có tội lỗi. Nhưng theo về cảnh ngộ Cửu Tam, thời vừa cuối cùng Nội quái, mà bước lên Ngoại quái, Thái vận đã gần quá nửa rồi, thịnh sắp cực, mà e có khi suy, tấn đã cao mà e có lúc vấp.

Vậy nên Thánh nhân có lời răn rằng: Đường đời dặc dặc không lẽ bằng mãi mà chẳng nghiêng, vận nước dào dào không lẽ lên hoài mà chẳng sụt, gẫm suốt cả Thiên thì Nhân sự, chắc gì thái thịnh hoài mà chẳng suy vong. Vậy nên xử vào địa vị Cửu Tam, thường phải để lòng vào cảnh gian nan, đặt thân vào vị trinh chính, thời không tội lỗi. Những lời trên ấy là Thánh nhân răn cho Cửu Tam. Tuy nhiên, địa vị Cửu Tam chính vừa khi Thái đương thịnh, miễn biết hết sức gian trinh, thời làm gì đến nỗi có ưu hoạn.

Tuất, cũng như chữ Ưu hoạn; Vật tuất, nghĩa là không việc gì phải ưu hoạn.

Chẳng những vật tuất, mà chắc chắn lại được hưởng hạnh phúc nữa kia.

PHỤ CHÚ: Âm Dương tiêu trưởng tranh nhau, bỉ thái tuần hoàn nối nhau. Vậy nên bình tất có bí, vãng tất có phục, đó là thiên vận tự nhiên.

Chúng ta đem thân gánh việc đời, tất phải lấy Nhân sự đương nhiên mà chống với thiên vận tự nhiên. Vậy có câu: tinh thần di tạo hóa. Lại có câu: Anh hùng tạo thì thế. Chính là lo làm sao cho bình bất bí, vãng bất phục, nhưng muốn khiến cho bất bí tất phải tính trước ư khi còn bình, muốn khiến cho bất phục, tất phải ngăn trước ư khi còn vãng. Vậy nên đến Cửu Tam mới được nửa Thái, mà Thánh nhân đã vội răn hai chữ gian trinh, chính là muốn lấy sức người giằng giữ thiên vận vậy. Sách xưa có câu: Nhân định giả, năng thắng thiên. Định, nghĩa là chuyên nhất vững vàng.

Tượng viết: vô vãng bất phục, thiên địa tế dã.

Hào từ Cửu Tam sở dĩ nói rằng: Vô vãng bất phục, là đương lúc nửa Thái, hết Nội Càn sang Ngoại Khôn vừa đúng trung gian trời đất giao nhau vậy.

Nguyên lai, Dương giáng Âm thăng, mới thành ra Thái, nhưng theo lẽ tuần hoàn của Tạo hóa, thế mãi đâu, Dương giáng xuống dưới, chẳng bao lâu tất phục lại ở trên, Âm thăng lên trên, chẳng bao lâu tất phục lại xuống dưới, chắc có một ngày Dương thăng Âm giáng. Càn thượng Khôn hạ, tức là Bỉ tới ngay.

Chữ Thiên địa này nói về khí Âm Dương, chẳng phải nói về hình... trời đất.

4. - Lục Tứ, phiên phiên; bất phú, dĩ kì lân, bất giới dĩ, phu.

Hào này ở dưới hết Thượng quái, là đã quá nửa thì Thái. Thể hào đã âm nhu, lại ở vị âm, là có tính chất âm hiểm. Trên Tứ lại có hai âm cũng đồng đảng với Tứ.

Bọn họ vì ở thì Thái, nên phải nhượng bộ cho quân tử mà ra ở ngoài, nhưng tiểu nhân có bao giờ chịu an phận đâu. Bây giờ họ nghe Thái đã quá nửa, họ mới thừa cơ rủ rập nhau vào trong mà lấn phường quân tử. Phiên phiên, nghĩa là kết bầy bay mau.

Kể theo bản thân họ vẫn tài hèn sức yếu, chẳng lấy gì làm phú, nhưng vì họ thân cận đồng loại với nhau, tượng như một đám người thành ra một xóm, mà tất thảy là hạng bất phú.

Tấm lòng liên tà hại chính, anh nào cũng như anh nấy, nên họ chẳng chờ ước hẹn mà đã tin nhau rồi.

PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Tam là răn cho quân tử; hào từ Lục Tứ là gớm cho tiểu nhân, chữ Phú ở đây, như chữ Phú ở hào Ngũ quẻ Tiểu Súc, nghĩa là đầy đủ, hào Dương rằng phú, hào Âm rằng bất phú.

Tượng viết: phiên phiên bất phú, giai thất thực dã, bất giới dĩ phu, trung tâm nguyện dã.

Hào từ nói rằng: phiên phiên bất phú, là phe tam âm đó, rặt là mất đức thành thực vậy. Bất giới dĩ phu, là vì trong lòng họ đã muốn sẵn vậy.

Thông lệ trong Dịch, Dương là phú, là thực. Ba hào Âm thảy bất phú, lại thất thực. Chữ giai là nói luôn cả ba hào Âm.

5. - Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, dĩ chỉ, nguyên cát.

Hào Lục là âm nhu, xử vị Ngũ là vị chí tôn, vị Ngũ là đắc trung, âm nhu đắc trung, lại ở vào thì Thái, phía dưới có bậc hiền thần cương minh như Cửu Nhị, mà lại chính ứng với Ngũ. Lục Ngũ lấy đức nhu trung là hạ ứng với Cửu Nhị cương trung, hết lòng tín nhiệm Cửu Nhị, quên hết thể vị tôn quý của mình. Tượng như bà công chúa, em gái vua Đế Ất mà hạ giá với bình dân, là một cách khuất kỉ hạ hiền, tất được kết quả rất tốt. Đã được hưởng phúc chỉ, mà lại tốt lành lớn hung.

Đế Ất là hiệu vua đời nhà Thương; Quy: gả; Muội: em gái; Chỉ: phúc.

PHỤ CHÚ: Hào từ này là mướn một việc em gái nhà vua gả xuống làm vợ bình dân, để hình dung thành tâm Lục Ngũ xuống theo Cửu Nhị.

Xin học giả chớ nhận lầm sự thực. Bởi vì, cứ theo hào Tượng, thời một hào Âm thuận tòng với hào Dương, cũng như người gái thuận tòng với người trai, Duy Lục Ngũ là vị chí tôn nên thủ tượng bằng bà công chúa, không câu nệ bằng sự thực.

Tượng viết: dĩ chỉ nguyên cát, trung dĩ hành nguyện dã.

Hào từ Lục Ngũ sở dĩ được dĩ chỉ nguyên cát là vì nhu trung như Lục Ngũ gặp được cương trung như Cửu Nhị, hai bên thảy hợp theo chí nguyện nhau mà làm, chẳng bên nào xuất ư miễn cưỡng.

PHỤ CHÚ: Đọc hào từ Lục Ngũ này nên nhắc lại câu dĩ quý hạ tiện quẻ Truân. Truân Sơ lấy mình là Dương mà hạ khuất với Âm. Thái Ngũ lấy mình là Âm, mà hạ khuất với Dương; hai bên thảy lấy mình tôn quý mà chịu khuất với người ti tiện. Vui phần đạo đức mà quên phần thế vị. Nên một bên thời tế được Truân, một bên thời thành được Thái, cảnh ngộ tuy bất đồng, mà thủ đoạn thời in nhau, mới biết "nhân lực hồi thiên" chẳng phải lời nói không.

6. - Thượng Lục, thành phục vu hoàng, vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh, lẫn.

Hào từ này cũng tượng như hào Thượng quẻ Lí, quẻ Tiểu Súc. Chẳng lấy nghĩa bằng hào, mà lấy nghĩa bằng toàn Quái. Quẻ Thái đến hào Thượng là Thái chi chung; Thái đã đến cùng, tất nhiên Bỉ tới, huống gì Thượng Lục lại là âm nhu, làm đầu bầy trong bọn tiểu nhân, chính là một tay đánh đổ Thái. Thánh nhân xem đến đó mà đau đớn cho vận đời, nên có câu: Thành phục vu hoàng.

Vận đời thịnh cực mà suy, tượng như thành cao khi đã đổ trúc, lại thành ra đất khối.

Hoàng: đất khối để đắp nên thành; chữ "Thành" tỉ như Thái, chữ "Hoàng" tỉ như Bỉ.

Cuộc đời đã đến lúc Thái quay lại Bỉ; tất nhiên chúng phản, thân li, thượng hạ hoán tán, còn gì mà dùng được việc quân nữa.

Sư: quần chúng.

Lúc bấy giờ, nếu có xuất phát được mệnh lệnh, cũng chỉ ở nơi chòm xóm mình mà thôi là may. Tổng chi, vận trời đã hết sức người khó giằng, dầu mình hành động vẫn chính, mà kết quả chỉ là thất bại, tới bây giờ mới toan vãn hồi, cũng chẳng khỏi tủi hổ.

Tượng viết: thành phục vu hoàng, kì mệnh loạn dã.

(Chữ Mệnh ở đây theo chữ Mệnh ở trên hào từ mà nói xuống).

Thành phục vu hoàng, là nói Thái cực mà Bỉ tới nơi, dầu có cáo mệnh cũng chỉ loạn mà thôi.

Thánh nhân nói câu ấy là trông mong cho người dự phòng ư trước lúc chưa loạn. Nếu đã loạn tới, chẳng tài gì vãn hồi được nữa.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Dịch từ lúc có Càn, Khôn, trải qua trung gian, nào Truân mà kinh luân; nào Mông mà giáo dục, nào Nhu mà sinh tụ; nào Tụng, nào Sư mà sắp đặt việc hình việc binh, nào Súc, nào Lí mà chỉnh đốn việc kinh tế, việc lễ chế; hao tổn biết bao nhiêu tâm huyết, chứa trữ biết bao nhiêu thì giờ. Kể về phần Khảm hiểm, trải qua đến sáu lần:

1. - Truân, Khảm thượng

2. - Mông, Khảm hạ

3. - Nhu, Khảm thượng

4. - Tụng, Khảm hạ

5. - Sư, Khảm hạ

6. - Tỉ, Khảm thượng

Thoát khỏi sáu lần nguy hiểm rồi. Vậy sau trong có chốn nuôi, trữ là Tiểu Súc, ngoài có chốn bằng tạ là Lí. Bây giờ mới làm nên Thái.

Thái vừa đến cuối cùng tức khắc ra Bỉ. Ghê gớm thiệt! Làm nên tốn vô số công phu, mà làm hư chỉ trong chốc lát, vun đắp biết bao nền tảng, mà đánh đổ chỉ trong nháy mắt.

Chúng ta đọc Dịch, thử xem từ Càn, Khôn trải qua tám quẻ mới đến Thái. Vừa Thái xong, tức khắc tới Bỉ.

Than ôi! Thành sao khó thế, bại sao dễ rư? Phúc sao chậm thế, họa sao chóng rư?

Những người có trách nhiệm với quốc gia xã hội, há chẳng nên lưu tâm vào chốn ấy hay sao?

Xin ai đọc Dịch, nghiên tinh đàn tứ những chốn vi diệu của Vũ trụ luân chuyển mà tự giác.