Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 12 — Thiên Địa Bĩ 否
Trang in 175–184
Quẻ này là quẻ Thiên Địa Bỉ. Khôn dưới cũng là Nội Khôn. Càn trên cùng là Ngoại Càn. Càn là Thiên, Khôn là Địa, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Địa Bỉ.
TỰ QUÁI
Tự quái: Thái giả thông dã, vật bất khả dĩ chung thông, cố thụ chi dĩ Bĩ.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Thái tiếp lấy quẻ Bĩ, là vì cớ sao?
Thái, nghĩa là thông. Bĩ, nghĩa là lấp, cũng nghĩa là cùng.
Nguyên đạo lí trong Vũ trụ, chỉ có lẽ tương đối, mà không lẽ gì tuyệt đối.
Thông với lấp tương đối, mà thông với cùng cũng tương đối. Hễ sau lúc đã Thái thông rồi, tất nhiên lấp với cùng tới. Vậy nên sau quẻ Thái, tiếp lấy quẻ Bĩ.
PHỤ CHÚ: Xem hai quẻ Thái với Bĩ liền nhau, mà bao quát được vô số đạo lí ở trong Vũ trụ.
Tỉ như: Quân chúa thịnh cực, tất có ngày quân chúa đổ; quân chúa đổ thời bình dân lên; tư bản thịnh cực, tất có ngày tư bản đổ, tư bản đổ thời lao động lên, chẳng bao giờ mà Thái mãi, cũng chẳng bao giờ mà Bĩ hoài, chỉ duy vãng phục tuần hoàn, là lẽ tất nhiên. Người ta chớ lấy mắt xem gần, thấy thịnh cực mà vui mừng, thấy suy cực mà chán nản.
Nếu Vũ trụ gian chỉ có một lối tuyệt đối, thời duy bao giờ trái đất không xoay, nhật luân không chuyển, mới họa có thế chăng.
SOÁN TỪ
Bĩ chi phỉ nhân, bất lị quân tử trinh, đại vãng tiểu lai.
Bĩ chi phỉ nhân.
Phỉ, như nghĩa chữ Phi; Nhân, nghĩa là đạo người.
Ở trong trời đất vẫn đủ cả vạn vật. Nhưng ở trong vạn vật, thời người là một giống tối linh. Vậy nên chỉ nói người, thời đại biểu được cả vạn vật. Người thiệt là phối với trời đất mà làm tam tài, nên đạo người tức là đạo trời đất, mà đạo trời đất chính gởi vào đạo người.
Đạo trời là gì? là khí Dương.
Đạo đất là gì? là khí Âm.
Âm Dương hòa hiệp với nhau, thời sinh thành được vạn vật, mà đạo người cũng nhân đó mà còn. Âm Dương cách tuyệt với nhau thời chẳng sinh thành được vạn vật, mà đạo người cũng nhân đó mà mất.
Thì Bĩ này Âm khí ở dưới, chẳng chịu thượng giao với Dương, Dương khí ở trên, chẳng chịu hạ tiếp với Âm. Âm Dương cách tuyệt nhau như thế, tất nhiên vạn vật chẳng sinh thành, còn gì là đạo người nữa. Nên nói rằng: Bĩ chi phỉ nhân.
Phỉ nhân, nghĩa là chẳng phải đạo người.
PHỤ CHÚ: Lời phỉ nhân ở Soán từ, tuy chuyên chỉ về Âm Dương bất giao, là thuộc về phần Thiên địa. Nhưng lấy đạo lí ấy mà suy vào Nhân sự. Tỉ như: Thân một người, dương nhiệt thượng xung, âm hàn hạ trệ, tất thành ra bệnh quan cách bất thông.
Tâm thuật một người, phấn sức thiên lí ở bề ngoài, chất chứa nhân dục ở bề trong, thời chẳng khác gì cầm thú, thảy là phỉ nhân. Thân thể đã bĩ tất nhiên thân tử, tâm thuật đã bĩ, tất nhiên tâm tử, chẳng phải vô nhân đạo hay sao?
Bất lị quân tử, trinh, đại vãng tiểu lai.
Ở thì Bĩ này, chính là âm tà đắc chí, tiểu nhân hoành hành, rất chẳng lị với đạo chính của quân tử. Vì cớ sao quân tử trinh lại bất lị? Vì thì Bĩ này trái với thì Thái. Thì Thái tiểu vãng đại lai, mà thì Bĩ đại vãng tiểu lai. Đại vãng, là dương cương qua ra ở ngoài; tiểu lai, là âm nhu lại vào ở trong, là tượng quân tử, thất vị tại ngoại, tiểu nhân đắc thế tại nội. Vậy nên, đạo trinh chính của quân tử, gặp hồi này chỉ nên tiềm tàng thối ẩn, chẳng làm gì thuận lị được.
Xem lời Soán truyện dưới này càng rõ lắm.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: bĩ chi phỉ nhân; bất lị quân tử trinh, đại vãng tiểu lai, tắc thị thiên địa bất giao, nhi vạn vật bất thông dã; thượng hạ bất giao, nhi thiên hạ vô bang dã. Nội âm nhi ngoại dương, nội nhu nhi ngoại cương, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử, tiểu nhân đạo trưởng, quân tử đạo tiêu dã.
Xem suốt ba câu Soán từ quẻ Bĩ thời:
Soán viết: bĩ chi phỉ nhân, bất lị quân tử trinh, đại vãng tiểu lai.
Càn ở trên, Khôn ở dưới, Âm Dương hai khí chẳng giao tiếp với nhau là Thiên địa bất giao mà vạn vật không thể sinh thành được.
Càn là phía trên, Khôn là phía dưới, trên áp chế dưới, dưới cách tuyệt trên, là thượng hạ bất giao, mà thiên hạ không chốn nào thành bang quốc được.
Chữ thiên hạ vô bang, há phải thiệt vô bang đâu! Chính chẳng ra chính, giáo chẳng ra giáo, trên chẳng thương dưới, dưới chẳng phục trên, tuy hữu bang mà cũng in như vô bang vậy.
Hai câu ấy chỉ là nói Nhân sự hoại loạn đạt ư cực điểm. Vậy nên Soán từ đã nói: Bĩ chi phỉ nhân, lại nói: bất lị quân tử trinh.
Soán từ ở trong toàn Kinh, duy quẻ này là xấu hơn hết. Bởi vì, theo như Tượng quẻ. Nói về Thể quẻ, thời ba Âm ở trong, mà ba Dương ở ngoài. Nói về Đức tính quẻ, thời âm nhu ở trong, mà dương cương ở ngoài. Nói về Thế đạo, thời tiểu nhân đắc thế ở trong, mà quân tử phải thất thế ở ngoài, đạo tiểu nhân thời ngày càng trưởng thêm đạo quân tử thời ngày càng mòn thêm. Thế là thiên đạo bỉ, thời nhân sự cũng bỉ luôn.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Soán từ quẻ Thái, quẻ Bĩ, thấy được thiên đạo Thái, thời Nhân sự cũng theo mà Thái luôn. Thiên đạo Bĩ, thời Nhân sự cũng theo Bĩ nốt. Thế thời chúng ta làm người ở một đời, toan ra gánh việc của một đời, chỉ phải nhường quyền cho thiên đạo mà thôi rư? Không, không.
Nguyên lai, Âm với Dương, quân tử với tiểu nhân, vẫn thường thường có luôn ở giữa Vũ trụ, chỉ tranh nhau cái cơ quan tiêu trưởng mà thôi. Chẳng qua Âm tiêu, Dương trưởng thời Thái; Âm trưởng, Dương tiêu thời Bĩ; quân tử trưởng, tiểu nhân tiêu thời Thái; tiểu nhân trưởng, quân tử tiêu thời Bĩ. Chính giữa lúc Đông hàn mà vẫn có Dương, vì thế mà Đông qua thời có Xuân lại.
Chính giữa lúc đời loạn, mà vẫn có quân tử, vì thế mà loạn cực thời trị sinh.
Xét cho đến nguyên nhân, thời rất quan hệ là cơ tiêu trưởng, nhưng cái tiêu đó có phải bỗng chốc mà tiêu ngay đâu, cái trưởng đó có phải bỗng chốc mà trưởng ngay đâu.
Nhất Dương sinh từ quẻ Phục, đến trưởng chi cực, mới thành ra quẻ Càn, nhất Âm sinh từ quẻ Cấn, đến trưởng chi cực mới thành ra quẻ Khôn, tuần hoàn tích lũy, há phải một mai một hôm mà nên rư? Thiên đạo như thế, Nhân sự cũng như thế, tiêu chẳng phải tiêu ở khi tiêu, mà chính măng mậm tiêu ở khi đương trưởng; trưởng chẳng phải trưởng ở khi trưởng, mà chính cội gốc trưởng ở khi đương tiêu. Một giọt không ngăn, thời trích trích chảy hoài, có thể thành ra sông bể. Một cây không đốn, thời ầm ầm nứt mãi, có thể thành ra rừng rậm.
Chúng ta nếu để mắt vào một giọt, một cây, mà phòng bị phần trưởng của tiểu nhân, vừa bổ cứu phần tiêu cho quân tử. Thế đạo làm gì Bỉ mà chẳng Thái. Đó chính là lấy Nhân sự mà vãn hồi thiên đạo.
Xin xem cả hào từ hai quẻ thời rõ lắm.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: thiên địa bất giao, bĩ; quân tử dĩ kiệm đức tị nạn, bất khả vinh dĩ lộc.
Thì Bĩ là đương lúc Thiên địa bất giao. Thiên đạo đã lù mù, Nhân sự cũng bế tắc, quân tử xử thì ấy, thời nên thế nào? Gặp thì đường đời rắc rối, tính người hiểm sâu, đã không thể tranh thắng với bọn tiểu nhân, thời càng chẳng nên hi sinh thân danh vì lợi lộc. Chỉ duy lo dè dặt đức mình, để tránh khỏi họa vì tiểu nhân mà mắc lấy nạn, mà lại nhất thiết những lộc vị của người cho mình, tuyệt đối chẳng thèm.
Kiệm đức, nghĩa là thao quang hối tích chẳng lòe loẹt đức cho mình cho người thấy. Bất khả vinh dĩ lộc, nghĩa là: dầu đem lộc vị cho mình, mà mình chẳng kể nó là vinh.
Ở trên Văn ngôn quẻ Khôn có câu: Thiên địa bế, hiền nhân ẩn. Chỉ một chữ ẩn vừa đủ thích Tượng truyện đây.
PHỤ CHÚ: Quẻ Truân, quẻ Bĩ thảy là thế đạo đương hồi khốn nạn, nhưng Tượng từ quẻ Truân thời bảo rằng: quân tử dĩ kinh luân, Tượng từ quẻ Bĩ thời lại bảo rằng: quân tử dĩ kiệm đức tị nạn. Thế chẳng mâu thuẫn lắm hay sao?
Không phải, Truân là đương lúc hoạn nạn mới manh nha, thời cứu cấp phù nguy là trách nhiệm của quân tử. Đến như Bĩ là họa hoạn đã thập phần đáo để. Nếu không thì thế cơ hội, thời chẳng nên làm việc gì. Xử thì ấy, chỉ duy ẩn thân đãi thì là minh triết của quân tử. Hai Tượng từ tuy khác nhau, mà đạo lí vẫn thông dụng với nhau.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, bạt mao như, dĩ kì vị, trinh, cát hanh
Sơ Lục bắt đầu bước vào thì Bĩ, chính là Thì làm lị cho bọn tiểu nhân, mà Sơ Lục này, chất Lục là âm nhu, vẫn là đồng đảng với hai hào trên. Nếu Sơ dắt đoàn kéo lũ liên lạc với hai hào trên mà đồng thì tịnh tấn, làm công việc đánh đổ Thái, thời thế đạo chắc bị nguy.
Thánh nhân vì đau lòng cho thế đạo, nên trông mong bọn họ hóa ra quân tử. Vả lại Sơ Lục còn ở đầu quẻ, tượng là một người mới bắt đầu ra đời, còn mong cảm hóa được. Thánh nhân mới có lời khuyên dỗ rằng: Thì đại này chính là cơ hội các anh dắt nhau lên. Nhưng trông mong cho các anh thương tiếc lấy đồng bào, giữ gìn lấy phúc sau, bỏ hết tà tâm mà giữ lấy chính đạo, dắt nhau đi vào đường chính. Thế thời tiền đồ của các anh chắc được cát mà hanh.
Nếu các anh không trinh, thời chưa chắc đã khỏi mắc lấy hung họa. Câu: Bạt mao như dĩ kì vị, cũng như hào từ Sơ Cửu quẻ Thái, mà ý thời khác nhau xa. Thái, là thì quân tử tịnh tấn, mà Bĩ thời chính là thì tiểu nhân tịnh tấn.
PHỤ CHÚ: Chữ Trinh ở hào Sơ với chữ Trinh ở Soán từ nguyên chỉ một chữ. Nhưng Soán từ thời đạo chính thuộc về phe quân tử, nên nói rằng: Quân tử trinh. Hào Sơ là Thánh nhân lấy lẽ chính khuyên miễn cho tiểu nhân, nên nói rằng: Nếu trinh thời cát hanh, là trông mong cho tiểu nhân hóa ra quân tử.
Tượng viết: bạt mao, trinh cát, chí tại quân dã.
Nguyên lai, Sơ Lục là hào Âm vẫn tiểu nhân, mà thượng ứng với Cửu Tứ là hào Dương. Dương là quân tử; Sơ ứng với Tứ là người dưới ứng với người trên. Thế là Cửu Tứ làm chủ nhân, mà Sơ Lục làm tôi tớ. Nếu tôi tớ trung thành với chủ nhân, thời tất nhiên chủ nhân khỏi bị họa. Nên Tượng truyện khuyên cho Sơ rằng: Bạt mao trinh cát, nghĩa là cốt trông cho tâm chí anh lo trung thành với chủ nhân anh vậy. (Quân: chủ nhân, tức là Cửu Tứ. Tứ, là loài quân tử, nên khuyên rằng: Chí tại quân).
2. - Lục Nhị, bao thừa, tiểu nhân cát, đại nhân bĩ hanh.
Lục Nhị cũng là tiểu nhân ở trong thì Bĩ, nhưng vì bản thân Nhị, hào Lục vị Nhị là cư trung đắc chính, một tay hào kiệt trong phường tiểu nhân. Bổn đảng nó tuy là tiểu nhân, mà bản thân nó lại chẳng muốn làm mất lòng quân tử, nó cũng phấn sức ra cách đạo đức, khéo bao bọc thừa thuận lấy ba dương trên. Tiểu nhân mà biết như Lục Nhị, thời lị đã được, mà danh cũng chẳng mất. Tiểu nhân cát, nghĩa là cách tốt lành thuộc về tiểu nhân.
Tuy nhiên, quân tử với tiểu nhân vẫn bất đồng đạo, tuy tiểu nhân có bao thừa quân tử đi nữa, cũng chẳng qua mua danh chuốc tiếng mà thôi, có lẽ nào quân tử chịu thất thân với nó đâu. Nếu quân tử mà bất tự trọng, cam dựa vào nó để được an thân, thời còn gì là tốt nữa đâu. Nên hào từ lại có câu rằng: Đại nhân bĩ hanh.
Đại nhân: người có đạo đức lớn.
Bĩ hanh: an giữ lấy cùng khốn, thời thân mình tuy Bĩ, mà đạo mình được Hanh. Câu hào từ này cũng như câu: Quân tử cố cùng ở sách Luận Ngữ, nghĩa là: Quân tử vẫn giữ lấy cùng, mới là quân tử.
Tượng viết: đại nhân bĩ hanh, bất loạn quần dã.
Bĩ vẫn một cảnh ngộ rất khốn nạn. Vì cớ sao lại nói rằng: Bĩ mà hanh.
Bởi vì, quân tử ở thì Bĩ, thế lực mình đã chẳng đủ tranh với tiểu nhân, mà đạo mình lại trái với tiểu nhân. Nếu mình hỗn tạp với bầy tiểu nhân, thời đạo của mình hỏng trớt, thân còn mà đạo mất, quân tử có chịu làm đâu, âu là độc lập bất tiến, chẳng chịu tạp loạn với bầy tiểu nhân. Thế thời thân tuy cùng, mà đạo vẫn hanh thông vậy.
PHỤ CHÚ: Chữ Đại nhân là thay chữ Quân tử ở trên Soán từ, rất có ý nghĩa, ở trên là nói bằng cách phổ thông, ở đây là nói cách đặc biệt.
Vì muốn cho quân tử được hoàn toàn làm quân tử, nên dùng chữ Đại nhân mà phản đối chữ Tiểu nhân, bảo có được như thế, thời đạo mình mới lớn. Chữ Đại đây chẳng phải nói đại bằng thế lực mà đại bằng đạo đức.
3. - Lục Tam, bao tu.
Hào Lục vị Tam, âm nhu bất trung bất chính, ở về thì Bĩ, lại là tiểu nhân chi cực, lại ở trên hai hào Âm, chính là người đầu bầy trong đám tiểu nhân. Theo về cách hành động của Tam, thời biết được tâm chí của Tam, chắc được trong lòng nó chất chứa một khối âm hiểm gian tà, mưu hại quân tử, thiệt đáng xấu hổ mà thôi.
PHỤ CHÚ: Đọc hào từ Hạ quái quẻ Bĩ, biết được tâm lí Thánh nhân vẫn ghét tiểu nhân, mà chẳng bao giờ tuyệt tiểu nhân. Hào Sơ là tiểu nhân mới ra đời, còn trông mong cho nó hóa ra quân tử, mà khuyên rằng: Trinh cát, hanh. Đến hào Nhị thời trông cho nó bao thừa quân tử mà nói rằng: Tiểu nhân cát. Đến hào Tam, thời tiểu nhân đã đạt ư cực điểm, nên hào từ chỉ có hai chữ "Bao tu". Ngó như hình đau chi cực, ghét chi cực, mà chẳng muốn nói nhiều. Nhưng ở trong thì ấy, Thánh nhân rất lo quân tử bị sụp. Nên Soán từ nói rằng: Bất lị quân tử trinh, mà hào từ Lục Nhị lại có câu: Đại nhân, Bĩ hanh. Tiên hiền có câu nói rằng: Dịch vị quân tử mưu, bất vị tiểu nhân mưu, nghĩa là, Kinh Dịch chỉ tính toan cho quân tử, chẳng phải vì tiểu nhân mà tính toan.
Tượng viết: bao tu, vị bất đáng dã.
Lục Tam sở dĩ đến nỗi bao tu, là vì hoàn cảnh của Tam đương buổi tiểu nhân đạo trưởng, mà địa vị của Tam lại bất trung bất chính, mới đến nỗi khả ố như thế.
PHỤ CHÚ: Chữ Vị đây có ý nghĩa hơn mọi nơi. Nguyên tâm lí của người ta lúc đầu, thời ai cũng muốn làm quân tử, phần nhiều vì hoàn cảnh xô đẩy, những hạng người chí khí bạc nhược, nên chẳng bao lâu thời biến ra tiểu nhân.
Ở về thì Bĩ, mà lại xử vào địa vị Lục Tam, kết quả chỉ là bao tu, cũng vì Vị mà xui nên như thế.
4. - Cửu Tứ, hữu mệnh, vô cựu, trù li chỉ.
Mệnh: mệnh trời, tượng như thì vận, cũng nghĩa là số tự nhiên; Trù: loài bạn; Li: nương nhờ; Chỉ: phúc.
Theo về Thể toàn quẻ, thời nội Tam âm là tiểu nhân, ngoại Tam dương là quân tử. Cửu Tứ có đức dương cương ở vào thể Càn kiện, vẫn là một bậc quân tử, lại vừa lúc vận Bĩ đã quá nửa là vị Tứ, chính là một cơ hội tốt cho quân tử, ngó thì thế đã sắp sửa hữu vi được, gặp hồi Bĩ đã quá nửa, mà tài Tứ lại có thể xoay được Bĩ. Thánh nhân mừng mà lại nói rằng: Tứ ơi! Thì vận đã tới rồi, ở trên có hai dương là đảng quân tử của mình, mình hết sức lo một cách tấn hành cho đúng, chớ làm những việc lầm lỗi; thời chẳng những mình được tốt mà thôi, mà phe phái bạn hữu mình, cũng thảy dựa cậy vào mình mà được phúc chỉ.
Tượng viết: hữu mệnh vô cựu, chí hành dã.
Hào từ này Bĩ sắp cực, mà Thái sắp lai, chính là cơ hội vừa bắt đầu tốt, chỉ cốt cách hành động giữa mình cho được vô cựu, thời chí tế thế an bang của mình, chắc được phát triển vậy.
PHỤ CHÚ: Cửu Tam quẻ Thái vừa đúng nửa Thái, Thánh nhân sợ Bĩ sắp tới, nên răn rằng: Gian trinh.
Hào từ quẻ Bĩ vừa quá nửa Bĩ, Thánh nhân mừng cho Thái sắp đến, nên nói rằng: Hữu mệnh vô cựu.
Tuy nhiên, việc trong thiên hạ từ Thái bước sang Bĩ, làm việc rất dễ, nên phải lo sẵn cho Cửu Tam, từ Bĩ mà bước sang Thái, là việc rất khó, nên Thánh nhân chưa dám vội mừng, chờ đến Cửu Tứ thiệt thấy dương cương đắc vị, mới tỏ ra ý mừng.
Chúng ta nếu biết được ý ấy, thời gặp thì Thái chớ nên thị thường tức là Gian trinh, gặp thì Bĩ lo rình cơ hội, tức là Hữu mệnh, có thì tiết nào mà chúng ta chán nản đâu.
5. - Cửu Ngũ, hưu bĩ, đại nhân cát, kì vương, hệ vu bao tang.
Hưu: thôi nghỉ. Chữ Kì này là hoạt động từ; Vương: mất; Kì vương: e có lẽ mất đó mà. Hệ: giằng buộc. Bao tang: ngùm rễ dâu. Dâu là giống ăn xuống đất rất sâu, ngùm rễ dâu lại càng khó nhổ, nên có tượng bền chặt.
Hào này, ở giữa Ngoại quái, Bĩ còn một hào nữa thời Bĩ hết. Theo về thì vận là Thái vận đã có cơ sắp tới: Cửu Ngũ có đức dương cương trung chính lại ở vào vị chí tôn, mà lại gặp được hồi Bĩ sắp chung, Thái sắp tới.
Tài đức ấy, cơ hội ấy, đứng ra gánh việc đời, chắc là thôi nghỉ được Bĩ cho thiên hạ. Ấy là đạo tốt lành của đại nhân đó vậy.
Tuy nhiên, khi đương trị mà làm ra loạn thời dễ, khi đương loạn mà làm ra trị thời khó. Huống gì hoàn cảnh Cửu Ngũ thiệt chưa ra khỏi Bĩ, tuy có tài toàn chuyển, may tạm thì Bĩ hưu, nhưng chưa nên vội mừng, phải nghĩ sâu tính xa, thường để ý vào phòng ưu lự hoạn, tự răn de trong lòng rằng: E có lẽ mất đây chăng, e có lẽ mất đây chăng. Nếu được như thế, thời nền tảng mình đắp mới thêm bền sự nghiệp mình làm mới thêm vững, một cách kiên cố như chằng buộc vào ngùm rễ dâu.
Ý nghĩa hào từ này, xem hệ từ giải thích càng rõ lắm. Xin tiện biên vào đây.
Tử viết: nguy giả an kì vị giả dã; vương giả bảo kì tồn giả dã; loạn giả hữu kì trị giả dã. Thị cố quân tử an nhi bất vương nguy; tồn nhi bất vương vương; trị nhi bất vương loạn. Thị dĩ thân an nhi quốc gia khả bảo dã.
Hệ từ nói rằng: Sở dĩ đến nỗi nguy, là vì mình chắc an được vị mình đó vậy. Sở dĩ đến nỗi vương là vì mình thường chắc được tồn đó vậy. Sở dĩ đến nỗi loạn là vì mình thường chắc được trị đó vậy. Vì vậy cho nên đấng quân tử, xử gặp thì đã an rồi, mà chẳng dám quên những sự nguy. Gặp thì đã tồn rồi, mà chẳng dám quên cái họa vương, gặp thì đã trị rồi, mà chẳng dám quên cái cơ loạn. Vì được như thế, nên thân mới an mà nước nhà mới giữ được vững vậy.
Tượng viết: đại nhân chi cát, vị chính đáng dã.
Đại nhân ở Cửu Ngũ với đại nhân ở Lục Nhị, vẫn in nhau một bậc đại nhân. Nhưng đại nhân ở Lục Nhị, hãy còn tại hạ vô vị, tuy có đức mà không thể hữu vi được, nên phải chịu Bĩ mới được Hanh. Đại nhân ở Cửu Ngũ, là địa vị chí tôn. Đức đã thịnh vị lại tôn, nên làm nổi sự việc hưu bĩ.
Đức tuy đồng, mà vị khác nhau, thời làm công nghiệp, cũng nhân cảnh ngộ mà khác nhau. Thế mới biết: thì thế tạo anh hùng, vẫn có lẽ.
6. - Thượng Cửu, khuynh bĩ, tiên bĩ, hậu hỉ.
Thượng Cửu cũng lấy nghĩa bằng toàn quẻ, quẻ Bĩ đến hào Thượng là vị cuối cùng. Thượng là Bĩ đã cùng cực rồi. Hễ vật lí đã cùng cực, tất quay trở lại. Vậy nên bĩ cực tắc thái lai. Thượng Cửu chính gặp cơ hội ấy, mà lại giữa bản thân có tài dương cương, dắt kéo cả hai hào Dương ở dưới lên nữa, ra tay toàn Càn chuyển Khôn đánh đổ được Bĩ. Duy ở thì cuối cùng Bĩ, thời nửa đoạn trước vẫn còn lo Bĩ, mà đến nửa đoạn sau, rành là hoan hỉ, là vì lúc ấy đã bước lên Thái rồi.
Tượng viết: Bĩ chung tắc khuynh, hà khả trường dã.
Bĩ đến Thượng Cửu là Bĩ chung rồi tất phải khuynh, có lẽ đâu Bĩ dài được. Thiên vận vẫn như thế, mà Nhân sự cũng như thế.
PHỤ CHÚ: Dịch lí cốt ở nơi tinh thần, chẳng phải chỉ xem ở nơi văn tự. Văn tự là một giống mà Thánh nhân mượn để tỏ ý nghĩa. Chúng ta phải hội lấy tinh thần ở ngoài văn tự, mới là biết học Dịch.
Lục Tam quẻ Thái chính là đương khi quân tử đạo trưởng, mà Thánh nhân đã lo đến vô bình bất bí. Cửu Tứ quẻ Bĩ chưa khỏi thì tiểu nhân đạo trưởng, mà Thánh nhân đã chắc rằng: Hữu mệnh vô cựu. Thế mới biết Thái chưa cực mà Thánh nhân đã nghĩ đến Bĩ lai, Bĩ chưa cực mà Thánh nhân đã nghĩ đến Thái lai. Chỉ trông mong cho chúng ta lấy Nhân sự mà vãn hồi Tạo hóa.
Nếu chờ đến Thượng Lục quẻ Thái mới biết được họa "Thành phục vu hoàng", chờ đến Thượng Cửu quẻ Bĩ mới biết được phúc "Khuynh Bĩ hậu hỉ", té ra chỉ ngồi nghe Tạo hóa, có gì là Nhân sự vãn hồi nữa đâu, như thế, thời Thánh nhân chẳng cầu làm Dịch.
Thánh nhân làm Dịch, chỉ cốt cho người ta: biết Thái tương cực ư khi còn Cửu Tam, mà trước phải gian trinh, biết Bĩ tương cực ư khi còn Cửu Tứ, mà trước lo cho vô cựu, có như thế, mới là mắt đọc Dịch, mà chính là người xử thế biết nhắm cơ hội.
Lại còn một lẽ, Nhân sự vẫn vãn hồi được Tạo hóa, nhưng tất phải có tài đức quân tử mới làm xong. Hào Dương ở trong Kinh Dịch tượng là quân tử.
Ba hào ở Ngoại quái Thái, tuy đương thì còn Thái, mà vì ba hào ấy rặt là Âm hào là tiểu nhân, nên kết quả chẳng giữ được Thái. Ba hào ở Ngoại quái Bĩ, tuy đương thì còn Bĩ, nhưng vì ba hào ấy, rặt là Dương hào là quân tử, nên chẳng bao lâu mà đánh đổ được Bĩ.
Đó là thâm ý của Thánh nhân bảo cho chúng ta nên quý quân tử mà tiện tiểu nhân vậy.