Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 16 — Lôi Địa Dự 豫

Trang in 212–219

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Lôi Địa Dự.

Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn.

Chấn là Lôi, Khôn là Địa. Nên tên quẻ đọc bằng Lôi Địa Dự.

TỰ QUÁI

Tự quái: hữu đại nhi năng Khiêm, tất Dự, cố thụ chi dĩ Dự.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khiêm tiếp lấy quẻ Dự, là vì cớ sao?

Thừa tiếp nghĩa hai quẻ trên, hữu đại rồi mà lại hay Khiêm, tất nhiên được an hòa lạc duyệt.

Vậy nên sau quẻ Khiêm tiếp lấy quẻ Dự. (Dự: vui vẻ sung sướng).

Quẻ này Chấn ở trên, Khôn ở dưới, Chấn có tính động, Khôn có tính thuận, hành động mà hòa thuận, có gì vui hơn, nên đặt tên quẻ Dự.

Lại thủ nghĩa bằng Nhị tượng. Sấm ra ở trên đất, khí Dương phát động, muôn vật nở sinh cũng là Dự.

SOÁN TỪ

Dự, lị kiến hầu, hành sư.

Quẻ này cũng là quẻ Ngũ Âm nhất Dương, Cửu Tứ là dương cương, ở gần Lục Ngũ là vị chí tôn, mà trên dưới năm Âm thảy thuận ứng với Tứ, tượng là một người tài đức xuất chúng, lại gặp thì đắc chí ư thì Dự, dụng làm việc gì, cũng thuận thích cả, mà việc lớn thứ nhất là Kiến hầu hành sư, cũng thuận lợi lắm.

Kiến hầu, nghĩa là dựng đặt tước Hầu, sẽ để quản trị nhân dân trong một nước; hành sư, nghĩa là đem quân đi. Nhóm hợp quần chúng thính mệnh lệnh với một ông tướng, cũng in như: Ngũ Âm thuận ứng với nhất Dương. Nên Quái từ nói rằng: Lị kiến hầu hành sư.

PHỤ CHÚ: Ở trong Quái hào nói: Kiến hầu hành sư có ba quẻ: quẻ Truân, quẻ Khiêm với quẻ Dự, quẻ Truân có Chấn không Khôn, nên chỉ nói: Kiến hầu, mà không nói hành sư. Quẻ Khiêm có Khôn không Chấn, nên chỉ nói hành sư mà không nói kiến hầu. Quẻ Dự góp cả Chấn với Khôn, thời nói góp rằng: Kiến hầu hành sư. Đó chính là thủ bằng Tượng quẻ mà khác nhau. Chấn có tượng quân trưởng, nên nói Kiến hầu. Khôn có tượng đại chúng, nên nói Hành sư.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Dự, cương ứng nhi chí hành, thuận dĩ động Dự; Dự thuận dĩ động, cố thiên địa như chi, nhi huống Kiến hầu hành sư hồ. Thiên địa dĩ thuận động, cố nhật nguyệt bất quá, nhi tứ thì bất thắc; thánh nhân dĩ thuận động, tắc hình phạt thanh nhi dân phục. Dự chi thì nghĩa đại hĩ tai.

Soán viết: Dự, cương ứng nhi chí hành, Thuận dĩ động Dự.

Đây là lấy thể quẻ, Đức quẻ thích nghĩa tên quẻ. Quẻ Dự này, dương cương được chúng âm ứng theo, mà chí dương gặp được dịp tấn hành, thuận với thiên thì Nhân sự mà hành động, như thế thời kết quả được hòa lạc, nên đặt tên quẻ bằng Dự.

Dự thuận dĩ động, cố thiên địa như chi, nhi huống Kiến hầu hành sư hồ.

Đây là lấy Đức quẻ thích nghĩa lời quẻ. Đạo trời đất, lí vạn vật chỉ có lí tự nhiên với đạo đương nhiên. Bây giờ thuận với lí tự nhiên đạo đương nhiên mà hành động mỗi việc cho nên dầu trời đất cũng nghe theo mà huống gì Kiến hầu hành sư nữa rư.

Thiên địa dĩ thuận động, cố nhật nguyệt bất quá, nhi tứ thì bất thắc, Thánh nhân dĩ thuận động, tắc hình phạt thanh, nhi dân phục.

Đây lại kể cho tường tận đạo thuận động, mà lại nói rộng thêm.

Trời đất xoay vần nền Tạo hóa, chỉ là thuận với lẽ tự nhiên mà hành động, cho nên mặt trời, mặt trăng phần đêm phần ngày hành độ chẳng bao giờ sai lầm, mà Xuân, Hạ, Thu, Đông, khí hậu bốn mùa chẳng bao giờ sai suyễn.

(Quá: sai lầm; Thắc: sai suyễn).

Sở dĩ được thế, chỉ vì thuận động mà thôi; Thánh nhân kinh lí thiên hạ, thống ngự nhân quần, cũng chỉ thích hợp với nhân tình, thuận theo với thì nghĩa, thời hình phạt chẳng phiền phức, mà muôn dân phục tùng (Thanh: giản lược).

Sở dĩ được thế cũng chỉ vì thuận động mà thôi.

Dự chi thì nghĩa đại hĩ tai.

Trên kia đã nói: đạo dự thuận, nay là ngần nghĩ mà tán tụng thì Dự, nói rằng: Thì, nghĩa thuộc về quẻ Dự, lớn lắm vậy thay! (Thì nghĩa là đạo lí ở thì Dự).

PHỤ CHÚ: Lời Soán truyện tán chữ Thì có mười một quẻ: quẻ Dự, quẻ Độn, quẻ Cấn, quẻ Lữ, nói Thì mà kiêm chữ Nghĩa; quẻ Khảm, quẻ Khuê, quẻ Kiển, nói Thì mà kiêm chữ Dụng; quẻ Di, quẻ Đại Quá, quẻ Giải, quẻ Cách, thời chỉ chữ Thì mà thôi. Lời tán tuy khác nhau, mà ý nghĩa thời in như nhau. Nói thì nghĩa vẫn có dụng, nói thì dụng cũng có nghĩa, nói thì thời nuốt cả nghĩa với dụng vào trong.

Nhưng vì, có quẻ thời chú trọng về phần dụng, có quẻ thời chú trọng về phần nghĩa, chẳng qua tùy thì quẻ mà lời có khác nhau.

Chúng ta nghiên cứu cho đến ý Thánh nhân, thời toàn bộ Dịch cốt yếu nhất là chữ Thì. Thánh nhân cử ra mười một quẻ mà tán rằng: Đại hĩ tai, kì dư các quẻ có thể suy được.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: lôi xuất địa phấn, dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.

Chấn lôi ở trên, Khôn địa ở dưới, tượng là sấm ra khỏi mặt đất, khí Dương ở dưới đất bùng lên, mà thành ra tiếng.

Vạn vật nhân lúc ấy hấp lấy dương khí mà nảy nở phát sinh. Nên đặt tên quẻ bằng Dự.

Tiên vương xem Tượng ấy làm ra nhạc, sẽ để bao sùng công đức, nhạc đã thịnh, công đức cũng thịnh tiến lên Thượng đế để phối tổ khảo. (Ân: thịnh; Phối: sánh; Dĩ phối tổ khảo: đem ông cha mình, phối với Thượng đế).

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Lục, minh dự, hung.

Chữ Dự các hào, với chữ Dự ở quẻ, nghĩa có khác nhau. Dự ở quẻ, thời nghĩa là hào lạc, cũng như nghĩa chữ Dự ở câu: Nhất du nhất dự vi chư hầu độ, ở sách Mạnh Tử.

Chữ Dự ở các hào thời nghĩa là tự lạc, như nghĩa chữ Dật dự. Vui vẻ với thiên hạ thời là Dự hay, một mình sung sướng hớn hở thời là Dự dở.

Sơ Lục âm nhu cư hạ, vẫn là tiểu nhân bất trung chính, nhờ ở trên có Cửu Tứ là người có thế lực ở thì Dự. Sơ được ứng với Tứ, Tứ viện trợ cho Sơ, Sơ là tiểu nhân, ỷ thế cường viện, đắc ý kiêu nhân, tự khoe cách vui sướng của mình, kêu sướng cho người ta nghe, là thái trạng của tiểu nhân đắc chí, còn gì tốt nữa, kết quả tất nhiên hung.

PHỤ CHÚ: Cũng đồng một chữ Minh, mà Minh Khiêm thời Cát, Minh Dự thời hung, há phải đạo lí trái nhau đâu.

Kìa thời Khiêm chi cực, mà người ta nghe tiếng là tiếng tự nhiên mà được. Đây thời Dự chi thậm, mà khoe khoang cho người ta biết, tiếng đó là tự mình minh lên, tình trạng quân tử tiểu nhân khác nhau, nên kết quả cũng khác nhau.

Tượng viết: sơ lục minh dự, chí cùng hung dã.

Sơ Lục âm nhu cư hạ, mà khí kiêu chí mạn đã đến cùng cực, dật dự tự minh, hung là phải rồi.

2. - Lục Nhị, giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát.

Lục Nhị ở về thì Dự, theo như thường tình, thời phần nhiều người mắc họa lạc cực sinh bi. Duy Hào Nhị đắc trung đắc chính, chẳng đùa với thì tục, tự thủ trong mình bằng một cách kiên cố vững vàng, lại trì kỉ bằng một cách rất nhanh chóng quả quyết. Nên hào từ rất tốt.

Xem hệ từ giải thích càng rõ lắm.

Tử viết: Tri cơ kì thần hồ, quân tử thượng giao bất siểm, hạ giao bất độc, kì tri cơ hồ. Cơ giả động chi vi, cát hung chi tiên kiến giả dã; quân tử kiến cơ nhi tác, bất sĩ chung nhật. Dịch viết: giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát, giới như thạch yên, ninh dụng chung nhật, đoán khả thức hĩ, quân tử tri vi, tri chương, tri nhu, tri cương, vạn phu chi vương.

Hệ từ nói rằng: ứng sự tiếp vật mà biết được triệu trậm ở khi còn mảy may mới là thần diệu đó rư?

Đấng quân tử sở dĩ giao với bậc trên, cung kính mà chẳng đến nỗi siểm nịnh, giao với bậc dưới thương yêu mà chẳng đến nỗi lờn lã, chắc vị đức trí biết được cơ đó mà. Cơ, là nghĩa làm sao? Là cái máy động còn ở lúc mảy may, dầu cát dầu hung chưa rõ mà đã thấy được trước.

Quân tử thấy được việc ở khi cơ vi mà ứng phó ngay chẳng chờ trọn ngày.

Lục Nhị quẻ Dự nói rằng: khí tiết mình bền chắc như đá, trí khôn soi việc lại lanh, chẳng chờ đến trọn một ngày mà thấy được chắc chắn, thế là vừa chính vừa lành. Hễ một người trinh tháo đã bền như đá, tinh thần an định, thời óc nghĩ sáng suốt, cần gì phải chờ đến tối ngày, mà phán đoán đã rành rõi rồi.

Thần diệu vậy thay! Là người quân tử biết được việc lúc còn lờ mờ, biết được việc lúc đã rõ rệt, biết được lẽ nên nhu mà nhu, biết được lẽ nên cương mà cương. Thế mới làm được một người cho muôn chúng trông vào (Vi: đương lờ mờ; Chương: đã rõ rệt).

PHỤ CHÚ: Sách Đại học có câu: An nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc. (An: tinh thần an lặng; Lự: nghĩ tính lo lường).

Tinh thần có an lặng, mà sau mới hay tính toán lo lường. Hay tính toán lo lường mà sau mới hay trúng được sự cơ, ý chính như hào từ, Lục Nhị này. Giới vu thạch, là an mà hay lự, bất chung nhật trinh cát là lự mà hay đắc.

Nhưng xem lời Hệ từ, thời quan hệ nhất là chữ Tri. Có tri được vi mới tri được chương, có tri được nhu mới tri được cương. Tri, nghĩa là biết, biết được thấu, thời làm được nên. Học thuyết ông Tôn Văn có nói rằng: tri nan hành dị, mà tục ngữ ta có câu: Khôn chết, dại chết, biết sống. Cái "biết" quan hệ đến như thế, mà biết lại quý nhất là tri cơ. Đương lúc cơ vi mà đã biết trước, mới là chân chính tri. Nhưng khó lắm, nếu chẳng phải bậc người thần trí, làm sao tri được cơ?

Tri là một vấn đề rất khó, mà càng khó hơn nữa là tri cơ. Nên Dịch nói rằng: Tri cơ kì thần hồ.

Tượng viết: bất chung nhật, trinh cát, dĩ trung chính dã.

Lục Nhị, vì có đức trung chính, nên thủ tiết kiên tri cơ chóng. Vậy nên hay bất chung nhật mà được trinh cát vậy.

PHỤ CHÚ: Ở về thì Dự chính là lúc quần chúng đùa sự vui chơi, mà trong quẻ thời duy Cửu Tứ nhất Dương dụng sự, là một người thế lực lớn nhất ở trong đời ấy.

Những hạng người bất trung bất chính, tất nhiên xu phụ với Cửu Tứ, để mua chuộc cái bả vinh hoa. Duy Lục Nhị chẳng thèm ứng với Tứ mà những người phe phái với Tứ, Lục Nhị cũng chẳng dây dướng vào, thiệt là một người rất cao thượng, chỉ vì có đức trung chính mới được thế.

Kìa như: Sơ ứng với Tứ, thời minh dự mà hung, Tam tỉ với Tứ thời hu dự mà hối: Ngũ kề trên Tứ, thời mắc trinh lấy tật. Chúng ta mới biết rằng: Theo lí Kinh Dịch, thời những bọn xu phụ quyền thế, kết quả ích gì.

3. - Lục Tam, hu dự, hối trì, hữu hối.

Lục Tam vẫn đã bất trung bất chính, mà ở trên Tam lại có một người đại quyền thế là Cửu Tứ, Tam vì trọc trùm thân thế của Tứ, mong nhờ Tứ kiếm ăn, lấy làm tự đắc, chỉ ngửa mặt trông lên hào Tứ, mong được phú quý mà vui mừng. Như thế tất nhiên kết cục chẳng khỏi ăn năn.

(Hu, nghĩa là dòm lên trên).

Tuy nhiên, lòng ăn năn đó, nếu biết được sớm, còn có lẽ hay. Nhưng Tam có biết thế đâu, lôi thôi chậm chạp sụp vào bẫy quyền thế, mà chẳng rút chân ra mau, tất chẳng khỏi được chữ hối.

Tượng viết: hu dự, hữu hối, vị bất đáng dã.

Hu dự hữu hối là tội tại tư cách Lục Tam, chẳng đúng xử hoàn cảnh vậy (chữ Vị này có ý nghĩa như chữ Hoàn cảnh).

4. - Cửu Tứ, du dự, Đại Hữu đắc, vật nghi, bằng hạp trâm.

Cửu Tứ làm chủ cho toàn quẻ Dự, tượng là một người chủ động ở trong đời ấy, lại thân cận với Ngũ. Ngũ là bậc người đại Nguyên thủ, hết lòng tín nhiệm Tứ, như thế hoàn cảnh đã thuận, quyền lực lại lớn, người đời ấy nhờ mình mà vui vẻ.

(Du dự: xã hội bởi mình mà được dự).

Tứ vì có đức dương cương, mà lại gặp thì gặp thế, chắc Đại Hưu vi được, phát triển được hoài bão của mình.

Nhưng vì Tứ ở gần vị chí tôn, mà kẻ ở trên mình là người nhu nhược. Tứ lấy một mình đang gánh nặng cho thiên hạ, kẻ ở dưới mình rặt là âm nhu. Tứ thường lo không bạn đồng đức. Hoàn cảnh Tứ như thế, chính là vị nguy nghi. Tuy nhiên, chí lí ở trong thiên hạ, duy chí thành thời thường cảm cách được người, dầu cay co đến thế nào, nhưng mà chí thành cảm cách được lòng người, thời sợ gì thiên hạ không kẻ giúp mình. Vậy nên hào từ lại răn Tứ rằng: Tứ chỉ nên hết lòng chí thành, chớ để ý hoài nghi. Mình lấy thành cảm người, thời người cũng lấy thành ứng với mình, tự nhiên thành ứng khí cầu, có bạn tốt nhóm hợp giúp mình đã đông lại chóng.

(Hạp: hợp; Trâm: nhóm mà chóng; Hạp, cũng có nghĩa là sao chẳng; Bằng hạp trâm, nghĩa là bầu bạn sao chẳng chóng nhóm rư? Giảng như thế cũng thông).

PHỤ CHÚ: Chữ Du Dự cũng như chữ Du Di ở quẻ Di. Người thiên hạ tất thảy du ở mình mà được nuôi, thời là Du Di, người thiên hạ tất thảy du ở mình mà được hòa duyệt, thời là Du Dự.

Tượng viết: Du Dự, Đại Hữu đức, chí đại hành dã.

Thiên hạ du ở mình mà được sung sướng, là chí mình phát triển được lớn vậy.

5. - Lục Ngũ, trinh tật, hằng bất tử.

Đương ở thì Dự mà Lục Ngũ âm nhu cư tôn, trầm nịch vào cảnh dật dự, bị ở dưới Ngũ có: Cửu Tứ dương cương đắc chính, được lòng dân chúng, gánh hết việc thiên hạ. Ngũ tuy ở trên Tứ, mà Tứ chuyên hết sự quyền, Ngũ không thể tự lập được, tượng như người mắc bệnh bại già đời, nhưng may nhờ Tứ cũng không quá tay áp bức, mà Ngũ cũng đắc trung, nên công việc thiên hạ, chỉ cậy người làm thay cho, mà Ngũ thời được hưởng hư vị mãi mãi.

Tượng như là người có tật bệnh luôn luôn, mà sống dai chẳng chết. Nên hào từ nói rằng: Trinh tật, hằng bất tử.

PHỤ CHÚ: Cửu Tứ chuyên trọng quyền, mà Lục Ngũ thời hưởng nhàn phúc. Theo về sử nước ta, sau đời Lê Trung hưng hơn hai trăm năm, vua Lê nhu nhược, chúa Trịnh chuyên quyền, việc nước hoàn toàn ở trong tay Trịnh. Mà vua Lê chỉ là một vị Hoàng đế ngồi không. Đến ngày Trịnh vong thời Lê mới mất.

Như vua Lê đó, chính là trinh tật, hằng bất tử. (Nghĩa chữ Trinh ở đây khác mọi nơi; Trinh, nghĩa là dai dắc).

Tượng viết: Lục Ngũ trinh tật, thừa cương dã, hằng bất tử, trung vị vong dã.

Lục Ngũ sở dĩ trinh tật, là vì cưỡi trên hào dương cương là Cửu Tứ vậy. Sở dĩ hằng bất tử, là vì vị trung ở hào Ngũ cũng chưa đến nỗi mất vậy.

6. - Thượng Lục: minh dự thành hữu du, vô cựu.

Thượng Lục đã âm nhu bất trung bất chính, mà lại ở thì dự chi cực, nên nỗi trầm mê vào cảnh dự, chỉ biết vui sướng ở trước mắt, mà chẳng biết ngó tới sau lưng, thiệt là một người dự mà mê tối.

Nhưng còn may một tí, hào Thượng là ở về Chấn thể, còn có động cơ, mà lại tại dự chi chung. Dự cùng tắc biến, nên Thánh nhân mong cho thiên thiện cải quá, mà nói rằng: Minh dự tuy đã thành chứng nhưng nếu biết phát phẫn tự cường, mà biến đổi nết xấu, thời không đến nỗi tội lỗi.

Tượng viết: minh dự, tại thượng, hà khả trường dã.

Minh dự mà ở trên hết quẻ, có lẽ mê mẩn hoài được rư?

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc hết sáu hào quẻ Dự, mới biết câu thầy Mạnh nói: Sinh ư ưu hoạn, nhi tử ư an lạc dã, nghĩa là: Người ta thường nhờ ở chốn ưu hoạn, mà được sống, mà cũng thường vì dật dự đến nỗi phải chết. Dự nghĩa là hòa dự, cũng nghĩa là dật dự, đáng lẽ là vui vẻ sung sướng; nhưng trong sáu hào, duy Nhị biết vất bỏ cảnh dật dự, tự thủ lấy một cách trinh, thời được cát; còn Sơ Lục thời minh dự mà hung. Lục Tam thời hu dự mà hối. Cửu Tứ thời tuy du dự mà còn phải nghi. Lục Ngũ thời mắc lấy trinh tật.

Thượng Lục, thời mắc lấy tội minh dự. Thế mới biết rằng: cảnh sung sướng vui vẻ chính là cái cửa vào nguy hiểm chông gai. Người xưa có câu: Yến an trậm độc, bất khả hoài dã.

Nghĩa là: an vui sung sướng, chính là thuốc độc rượu trậm hay giết được người, rất không nên say mê vào nó. Nên nói rằng: nghĩa ở quẻ Dự rất lớn vậy thay! Nghĩa chữ Dự lại còn có một nghĩa là dự bị. Nếu biết dự bị thời khỏi mắc họa dật dự.

Học Dịch càng cần phải biết nghĩa ấy.