Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 17 — Trạch Lôi Tùy 隨

Trang in 220–229

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Trạch Lôi Tùy.

Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài.

Đoài là Trạch, Chấn là Lôi. Nên tên quẻ đọc bằng Trạch Lôi Tùy.

TỰ QUÁI

Tự quái: dự tất hữu tùy, cố thụ chi dĩ Tùy.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Dự tiếp lấy quẻ Tùy, là vì cớ sao?

Hễ đã Dự rồi, tất có nhiều người vui theo, nên sau quẻ Dự tiếp lấy quẻ Tùy.

Dự, nghĩa là vui; Tùy, nghĩa là theo.

Quẻ này Đoài trên, Chấn dưới. Đoài là hòa duyệt; Chấn là động; động là hòa duyệt, tất nhiên nhiều người vui theo.

Lại theo về Tượng quẻ: Chấn là trưởng nam, Đoài là thiếu nữ, thiếu nữ duyệt trưởng nam mà theo nhau, thảy là nghĩa chữ Tùy. Lại một Tượng nữa: Chấn là Lôi, Đoài là Trạch, Lôi nhúc động ở trong Trạch, Trạch tùy mà động theo, cũng là tượng Tùy, góp nghĩa hai Tượng như thế, nên đặt tên quẻ bằng Tùy.

SOÁN TỪ

Tùy, nguyên hanh, lị trinh, vô cựu.

Nghĩa tên quẻ đã thích rõ như trên, nay thích Quái từ chỉ nói đạo Tùy.

Tùy, nguyên nghĩa là theo, tức là tùy tòng, nhưng ở trong đạo Tùy, có hai phương diện:

Một phương diện là, mình tùy người; một phương diện là, người tùy mình.

Chọn được "minh sư", "lương hữu" mà tùy, nghe được "trung ngôn", "trực gián" mà tùy, ấy là Tùy hay.

Nếu mắc lấy tiểu nhân gian ác mà tùy, say lây lời gian miệng ngọt mà tùy, ấy là Tùy dở.

Tạo nhân tùy có tốt xấu, thời kết quả tùy có lành dữ. Nên Quái từ răn cho chúng ta rằng: Người trong thiên hạ chẳng ai tránh khỏi chữ Tùy, sự nghiệp lớn như vua Thuấn, cũng phải bỏ ý kiến mình theo ý kiến người. Đạo đức Thịnh như đức Khổng cũng phải chọn điều lành mà theo.

Nghĩa chữ Tùy lớn đến như thế, nhưng cốt phải tùy cho đắc kì đạo. Nếu tùy bất đắc kì đạo, thời thành ra uốn cong sở học mình mà a dua với đời, chỉ là một bọn quỷ tùy vô lương thời đến nỗi vì tùy mà táng thân, thất tiết, cái cơ tùy lại nguy hiểm đến như thế.

Vậy thời Tùy nên thế nào?

Tất phải kén chọn làm sao cho được một cách đại thiện, tùy mà được đại thiện, tất nhiên mình vì đạo phải mà tùy người, người cũng vì đạo phải mà tùy mình. Nhân với quả tương sinh, mình với người thảy tốt, có việc gì mà chẳng thông thuận đâu. Nhưng sở dĩ đại thiện mà hanh, há phải tạm thì nửa đoạn mà được đâu, lại tất phải thành tâm kiên cố, hữu thỉ hữu chung thời kết quả của Tùy mới được viên mãn.

Như thế, thời Tùy mới không tội lỗi.

PHỤ CHÚ: Đạo lí trong thiên hạ, rất lớn là chữ Tùy, lớn đến như Vũ trụ, nhưng địa cầu hành tinh phải đi theo nhật luân; nhỏ đến nhất vật, như ong theo con chúa tướng, kiến theo con đầu bầy, chỉ nói giữa một thân người ta, ngũ quan tứ chi tất thảy là tùy theo tâm não, tâm não sai khiến đến đâu, thời thể phách theo đến đấy, nhưng chân lí của Tùy, chẳng phải là nô lệ, chỉ vì công lí mà tùy, chứ chẳng phải vì thế lực mà tùy; vì đại cuộc mà tùy chứ chẳng phải vì tiểu kỉ mà tùy; vì công ích mà tùy chứ chẳng phải vì tư lị mà tùy. Trước khi chưa tùy, phải kén chọn cho tinh, sau khi đã tùy, phải tiết tháo cho chính. Vậy nên Quái từ đã nói: Tùy, nguyên hanh, mà lại nói tất phải lị trinh mới được vô cựu, quan hệ nhất là chữ Trinh. Nếu sở tùy bất trinh, thời tuy nguyên hanh mặc dầu, mà cuối cùng cũng chắc có tội lỗi. Chúng ta nhận kĩ ý Quái từ này, thời dầu theo một chủ nghĩa nào, theo một phe phái nào, cũng gọi bằng Tùy, mà Tùy tất phải Trinh mới được.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: tùy cương lai nhi hạ nhu, động nhi duyệt tùy đại hanh, trinh, vô cựu, nhi thiên hạ tùy thì(1). Tùy thì chi nghĩa đại hĩ tai.

Soán viết: tùy cương lai nhi hạ nhu, động nhi duyệt tùy.

Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng quẻ Tùy, là theo bằng Quái biến, hào Dương quẻ Chấn xuống ở dưới hết quẻ, nhường cho hào Âm quẻ Đoài ở trên hết quẻ, Chấn ở Nội, Đoài ở Ngoại, là động mà hòa duyệt.

Nên tên quẻ đặt bằng Tùy.

Đại hanh, trinh, vô cựu, nhi thiên hạ tùy thì.

Tùy mà đại hanh lại trinh, thời vô cựu, mà thiên hạ tất thảy vui theo.

Xưa nay việc trong thiên hạ thường có một người đề xướng lên chủ nghĩa gì, hoặc học thuyết gì, mà thiên hạ cũng chỉ vì thì đã đến thế, mà thiên hạ mới theo. Tỉ như: Chính thể quân chủ lập hiến, hoặc chính thể dân chủ, học thuyết quốc gia hay xã hội, thường có một người thủ xướng, mà muôn ngàn người họa theo, cũng chỉ vì đúng Thì mà thôi.

Nếu chưa có họa quân chủ chuyên chế, như đời Lộ Địch thập lục(2) mà xướng dân chủ. Nếu chưa có họa tư bản chiến tranh như cuối thế kỉ thập cửu, mà xướng xã hội học thuyết, thời có ai theo đâu. Vậy biết chữ Thiên hạ tùy thì rất hay.

Tùy thì chi nghĩa đại hĩ tai.

Tóm xem mấy câu trên ấy, mà ngẫm nghĩ cho sâu, thời biết nghĩa chữ Thì ở quẻ Tùy là lớn lắm vậy thay.

PHỤ CHÚ: Đức Khổng thích Quái từ quẻ Tùy, mà kết thúc lấy chữ Thì, lại tán rằng: Đại hĩ tai, ý tứ sâu lắm, vừa tinh lắm.

Dầu thiên đạo đến Nhân sự chẳng bao giờ vượt khỏi chữ Thì.

Nhà lầu, áo gấm, mà chế tạo ra ở đời dã cư huyệt xử bế quan tỏa cảng mà giữ chặt ở đời hoàn hải giao thông, thiệt không thể nào làm được. Bởi vì, Thì chưa đến, dầu Thánh triết cũng không thể cưỡng bắt Thì theo ý riêng mình. Thì đã đến rồi, dầu dung ngu cũng có thể đua Thì cạnh tấn. Vậy nên, ở trong nghĩa chữ Tùy lại quý trọng nhất là Tùy thì.

(1) Chữ Thì là theo sách xưa, nay đổi làm chữ Chi mới đúng.

(2) Lộ Địch thập lục: Vua Lu-i thứ 16.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: trạch trung hữu lôi, tùy, quân tử dĩ hướng hối nhập yến tức.

Đoài thượng Chấn hạ là tượng ở giữa lòng chằm có tiếng sấm, nước chằm theo tiếng sấm mà động, ấy là Tượng quẻ Tùy. Quân tử xem Tượng ấy tùy thì mà động tĩnh, thì nên động mà động, là ban ngày; thì nên tĩnh mà tĩnh là ban đêm, hướng buổi đêm thời vào an nghỉ, cũng là một việc tùy thì của quân tử.

(Hướng hối: tới buổi đêm; Yến tức: an nghỉ).

Hướng hối nhập yến tức, là chứng vào một việc rất thiển cận, sẽ để cho học giả suy rộng ra.

PHỤ CHÚ: Trong Dịch thủ tượng theo Lôi, mà quân tử bắt chước Lôi có năm quẻ: quẻ Dự là "Lôi xuất địa phấn", thời bắt chước Lôi mà "tác nhạc sùng đức". Quẻ Đại tráng là Lôi tại thiên Thượng, thời bắt chước Lôi mà phi lễ phất lí; quẻ Vô Vọng là thiên hạ lôi hành, thời bắt chước Lôi mà đối thì dục vật. Đó là bắt chước cách động của Lôi: quẻ Phục là Lôi tại địa trung, thời bắt chước Lôi mà bế quan tức lự; quẻ Tùy là trạch trung hữu lôi, thời bắt chước Lôi, mà hướng hối yến tức. Đó là bắt chước cách tĩnh của Lôi.

Tục ngữ thường nói: "Tháng Mười sấm nạp, tháng Chạp sấm ra". Thế là: Lôi vẫn có khi động khi tĩnh. Xuân Hạ thời Lôi phát thanh, Thu Đông thời lôi thu thanh, cũng là một công dụng, thuộc về đạo trời, quân tử động tĩnh tùy Thì, cũng là bắt chước đạo trời vậy.

Còn có một nghĩa: Quân tử tự cường bất tức, cớ sao lại nói yến tức, chẳng là mâu thuẫn hay sao?

Không, không, bất tức là kiêm cả tinh thần và xác thịt, nên thuộc về ban ngày thời chẳng nghỉ. Yến tức, là an nghỉ cái xác thịt, sẽ để bồi dưỡng phần khỏe bằng tinh thần. Danh tuy yến tức, mà kì thực là bất tức, nuôi tinh thần bằng buổi đêm, chính là một cách tự cường của quân tử. Thử xem như ông Chu Công "tọa dĩ đãi đán", đức Khổng "chung dạ bất tẩm, dĩ tư". Thế là xác thịt tuy nghỉ mà tinh thần có bao giờ nghỉ đâu, chỉ duy, muốn cho tinh thần khỏe mạnh, tất cũng có khi phải nghỉ xác thịt, hướng hối, nhập yến tức, chính là nghĩa ấy.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Cửu, quan hữu du, trinh cát, xuất môn giao hữu công.

Sơ vẫn hào Dương, đáng lẽ làm chủ cho Âm, mà Âm thì phải tùy Dương. Bây giờ Sơ Cửu lấy mình là Dương, mà trở lại tùy hai Âm. Thế là Sơ vẫn làm chủ, mà có lúc biến dịch, e chẳng được tốt, nhưng xử Thì buổi Tùy, lại cốt tùy thì biến dịch, chỉ sợ cách biến dịch chẳng được chính mà thôi. Nếu biến dịch mà được chính, ấy là Tùy mà trinh, tất được tốt lành.

(Quan: chủ; Du: biến).

Theo lệ Kinh Dịch, Dương làm chủ cho Âm, nên gọi bằng quan mà nghĩa làm chủ.

Tuy nhiên, thường tình người ta hễ đã có Tùy, thường dây dướng vào vòng tư ái, tức là: tùy nhi bất trinh, đã bất trinh làm sao được cát. Nên tất phải đoạn tuyệt nhất thiết tư ái, tượng như ra ngoài cửa mà giao kết với người, thời mới có thành công.

Xuất môn giao, nghĩa như câu: Đồng Nhân vu môn, ở quẻ Đồng Nhân, không giao kết bằng tư tình, mà chỉ giao kết bằng chính lí, thời mới được việc.

PHỤ CHÚ: Thích hào từ này, Tượng truyện có một đoạn nghĩa lí rất hay, tuy chẳng theo hào nghĩa, nhưng cũng biên ra để cống hiến độc giả.

Thường nhân chi tình, ái chi, tắc kiến kì thị; Ố chi, tắc kiến kì phi, cố thê noa chi ngôn, tuy thất nhi đa tòng, sở tăng chi ngôn, tuy thiện vi ác dã.

Nghĩa là: Tình của hạng người dung thường: người mình đã yêu, thời chỉ thấy nó là phải, người mình đã ghét, thời chỉ thấy nó là trái. Vậy nên lời nói của vợ con mình, tuy lầm lỗi mà hay nghe theo. Lời nói của người mình ghét, tuy có lành mà cũng cho là xấu vậy.

Câu thơ của cụ Uy Viễn cũng nói rằng:

Lúc ghét dệt thêu ngay hóa vạy,

Khi ưa tô vẽ méo nên tròn.

Đó rặt là Tùy mà chẳng được chính, Tùy mà được chính, có đến nỗi bất cát đâu.

Tượng viết: quan hữu du, tòng chính, cát dã. Xuất môn giao hữu công, bất thất dã.

Quan hữu du, nhưng mà theo được chính, thời tốt lành vậy (chính là nghĩa chữ Trinh). Xuất môn giao, hữu công, là Tùy được chính, thời chẳng đến nỗi thất bại vậy.

2. - Lục Nhị, hệ tiểu tử, thất trượng phu

Lục Nhị vẫn có chính ứng của mình là Cửu Ngũ, Ngũ dương cương trung chính, là đích đáng một vị trượng phu, nhưng vì Nhị thân cận với Sơ, Nhị đã tính chất âm nhu, giữ mình chẳng được bền vững, mà lại xử về thì Tùy, gần đâu tùy đấy, lân la ríu rít với Sơ, nốt tùy quách Sơ, té ra hụt mất Cửu Ngũ, là chính ứng của mình, ấy là hệ tiểu tử, mà mất trượng phu đó vậy.

(Tiểu tử, chỉ vào Sơ dương, trượng phu là chỉ vào Ngũ dương. Hệ, nghĩa là bìu ríu, ríu rít).

PHỤ CHÚ: Dương cương biết theo đạo lí chính, mà tùy người, thời gọi bằng Tùy, âm nhu chỉ theo tư tình mà tùy người, thời gọi bằng Hệ.

Vậy nên trong quẻ, ba hào Dương không chữ Hệ, ba hào Âm rặt nói chữ Hệ.

Tượng viết: hệ tiểu tử, phất kiêm dự dã.

Lục Nhị đã bìu ríu lấy Sơ, tất nhiên phải thất Ngũ, không lẽ được cả hai bên.

Nguyên lai, đạo Tùy, hoặc mình tùy người, hoặc người tùy mình, thân người hiền tất viễn người gian, theo lối trái thời mất lối phải, không lẽ lưỡng tùy được, nên nói rằng: Phất kiêm dự. (Kiêm dự: tùy cả hai bên).

3. - Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử, tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh.

Lục Tam tính chất cũng như Lục Nhị, âm nhu không độc lập nổi, đụng ai thân cận thời tùy ngay. Nhưng Tam này may nhờ địa vị mình tiếp cận với Cửu Tứ, Tứ có tài dương cương, lại ở trên mình, chính là một vị trượng phu, Tam vì thân cận với Tứ, mà bìu ríu theo Tứ tuy ở dưới có Sơ cũng là dương cương, nhưng Tam đã tùy Tứ mà bỏ Sơ, nên Sơ cũng mất lòng với Tam. Thế là hệ trượng phu, thất tiểu tử.

(Trượng phu, chỉ vào Cửu Tứ; Tiểu tử cũng chỉ vào Sơ Cửu).

Tứ vì cớ thân cận mà tùy, Tam vẫn chẳng khác gì Nhị, nhưng Nhị thời bỏ chính mà theo tà; Tam thời bỏ dữ mà theo lành; tùy như mà Tam, là tùy cách khôn khéo. Nên nó cần gì với Tứ, Tứ cũng cung cấp.

Tuy nhiên, hễ mình có sở cầu với người mà người cho mình được, cũng chưa phải là thập phần chính đáng. Nếu chẳng khéo, thời thành ra xu thế trục lị, nên Thánh nhân lại răn cho rằng: Tam đã hữu cầu mà đắc, thời Tam nên tự xử bằng một cách chánh đáng; tùy mà được chánh đáng, thời dầu có hệ, cũng chẳng đến nỗi xấu gì.

PHỤ CHÚ: Lục Nhị, Lục Tam, thảy hữu sở hệ, nhưng Lục Nhị chỉ có thất mà chẳng đắc; Lục Tam thời hữu sở thất, mà cũng hữu sở đắc. Bởi vì, thất của Lục Nhị là thất trượng phu, chính là sở đang đắc mà trở lại thất, còn có đắc gì? Thất của Lục Tam là thất tiểu tử, thất phía dở, tức là đắc phía hay.

Tượng viết: hệ trượng phu, chí xả hạ dã.

Lục Tam biết hệ với trượng phu là chí ý của Tam bỏ phía ti hạ, mà theo phía cao thượng vậy.

Tùy như thế cũng đúng đạo phải.

4. - Cửu Tứ, tùy hữu hoạch, trinh hung, hữu phu, tại đạo, dĩ minh hà cựu.

Cửu Tứ sẵn có tài dương cương, xử được vị rất tôn ở trong bọn nhân thần, trên có Cửu Ngũ đồng đức với mình, mà hết sức tùy mình. Ở thì Tùy mà có tài lại có vị, tất nhiên thiên hạ theo về với mình cả thảy, sở đắc thiệt rất lớn.

(Hữu hoạch: được lòng cả thiên hạ).

Tuy nhiên, Công cái thiên hạ giả bất thưởng, nghĩa là: công đã hơn cả thiên hạ, thời chẳng biết lấy gì thưởng; Uy chấn chúa giả thân nguy, nghĩa là: uy danh đã kinh động đến chúa, thời e thân mình nguy. Cửu Tứ đã lập công bất thưởng, đội uy chấn chúa, xử cảnh như thế nguy nghi biết chừng nào.

Tuy theo về nghĩa lí vẫn là trinh, nhưng theo về sự thế thời có lẽ hung.

Quân tử xử địa vị ấy, hoàn cảnh ấy, thời nên thế nào, tất phải có một phương pháp hoàn thiện, chất chứa lòng chí thành ở phía trong, trên cảm cách được người Nguyên thủ, dưới thuyết phục được cả nhân dân, hành động những việc gì, cử chỉ những cách gì, tất thảy trúng với đạo lí. Khi việc nước còn rắc rối, thời tận tụy cúc cung, khi việc nước đã an bình, thời công thành thân thối. Lấy đức Minh triết mà ứng phó với cuộc đời. Như thế, thời vị cực cao, mà chẳng hiềm nghi bằng bức thượng, thế cực trọng, mà chẳng tội lỗi bằng chuyên quyền, trên yêu mà dưới theo, còn có tội lỗi gì.

PHỤ CHÚ: Như hào từ Cửu Tứ này, xử vào địa vị khả cát khả hung, chẳng phải bậc Thánh nhân đại hiền, thiệt là: khó xử, hữu phu là đức Tín, tại đạo là đức Nhân, dĩ minh là đức Trí, đủ ba đức ấy mới xử được địa vị hào này.

Xem sử nước ta, như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mới đang được hào này. Khi quân Mông Cổ ba lần vào đánh nước ta, vua thời thiên đô, Thái Thượng Hoàng phải chạy vào Thanh Hóa, bao nhiêu quyền quân quốc, phó thác vào một tay Đại Vương, nhân tâm lúc bấy giờ nghi cho Ngài có thể chuyên quyền cướp nước. Nhưng Ngài vẫn một lòng trung với nước, thù với giặc, đánh được quân Mông Cổ xong, thời rước Vua với Thái Thượng Hoàng về, nước đã nguy, nhờ Đại Vương mà được an, Vua đã bỏ ngôi, nhờ Đại Vương mà được phục. Đến khi công cao hơn bốn bể, uy chấn trong một đời, mà Ngài thỉ chung giữ phận nhân thần, dầu Vương phụ khuyên Ngài lấy nước, mà Ngài không nghe lời, dầu vua Trần cho Ngài được quyền phong tước, mà Ngài chung thân vẫn chẳng cho ai một đạo bằng. Như thế là Hữu phu, tại đạo, dĩ minh.

Vậy nên, uy quyền thiệt trọng, mà nhân chúa chẳng nghi, công danh thiệt cao, mà đời chẳng ghen ghét, chẳng đúng hào từ quẻ Tùy hay sao?

Tượng viết: Tùy hữu hoạch, kì nghĩa hung dã, hữu phu tại đạo, minh công dã.

Tùy hữu hoạch, là theo như nghĩa quẻ, thời cương hạ với nhu, mà Cửu Tứ thời mình là dương cương, mà được âm nhu tùy mình, trái với nghĩa quẻ, cũng có lẽ hung vậy.

Nhưng vì hữu phu tại đạo, thời kết quả được vô cựu, đó là công của đức Minh triết vậy.

5. - Cửu Ngũ, phu vu gia, cát.

Cửu Ngũ dương cương cư tôn, đắc trung đắc chính, hạ ứng với Lục Nhị cùng trung chính, ấy là tín thành với đạo đại thiện.

Tùy thiện mà gốc ở chí thành, là đạo rất tốt ở trong thì Tùy vậy.

Tượng viết: phu vu gia, cát, vị chính trung dã.

Cửu Ngũ sở dĩ được phu vu gia, cát, là vì ở tôn vị, mà có đức chính trung vậy.

Chính trung kiêm tán cho Lục Nhị hai bên thảy chính trung, mà theo nhau, còn gì tốt hơn.

6. - Thượng Lục, câu hệ chi, nãi tòng duy chi, vương dụng hanh vu Tây Sơn.

Thượng Lục ở cuối cùng quẻ Tùy, là Tùy chi cực, mà cũng là đạo Tùy đạt ư cực điểm. Tượng là lòng người tùy mình cố kết triền miên mà không thể rời nhau được, in như đã nằm tríu, lại còn theo mà chẳng trói.

(Câu hệ: bắt giữ; Duy: dằng trói).

Tùy mà cố kết như thế, nhân tâm đã kiêm cố, đại nghiệp tất cũng phải nên.

Ngày xưa, vua Thái Vương lánh nạn giặc, địch bỏ ấp Mân chạy sang Kì Sơn (Kì Sơn tức Tây Sơn). Người ấp Mân, già trẻ trai gái dìu dắt nhau đi theo Thái Vương như người dắt nhau đi chợ.

Nhân tâm tùy mình cố kết đến như thế, Thái Vương dùng đạo ấy mới hanh thịnh nghiệp vương ở Tây Sơn.

PHỤ CHÚ: Trong quẻ Tùy ba hào có chữ Hệ. Duy chữ Hệ Thượng Lục khác với Hệ Lục Nhị, Lục Tam. Hai hào kia là Hệ vì tư tình.

Thượng Lục là Hệ theo lí tự nhiên. Thầy Mạnh có câu: Dân chi quy nhân, do thủy chi tựu hạ dã. Nghĩa là: Lòng dân tất nhiên theo về người có đức nhân, in như nước tất nhiên chảy xuống chốn thấp.

Chữ Hệ ở hào Thượng là theo lí tự nhiên như thế, nên kết quả được hanh.

Tượng viết: câu hệ chi, thượng cùng dã.

Hào Thượng sở dĩ có lời: Câu hệ chi vân vân. Bởi vì, Tùy mà đến hào Thượng, là đạo Tùy đã đạt ư cực điểm rồi vậy.

(Cùng: cực, cũng nghĩa là tột mực).

PHỤ CHÚ: Theo thông lệ ở các quẻ, hệ đã cùng thời biến.

Lệ như: hào Thượng quẻ Càn, Dương cực thời mắc chữ "Kháng"; hào Thượng quẻ Thái thịnh cực, thời mắc chữ "Loạn"; hào Thượng quẻ Dự, vui cực thời mắc chữ "Minh"; chỉ duy hào Thượng quẻ Tùy, Tùy cực thời được chữ "Hanh". Đó là một lẽ biến hóa ở trong Dịch lí. Vật cực tắc phản, lạc cực sinh bi. Chữ duy Bĩ cực, thời mừng cho gần Thái, Truân cực thời mừng cho gần Thông.

Hễ bao nhiêu hoàn cảnh tốt, thời chẳng muốn cho cực, bao nhiêu hoàn cảnh xấu thời lại muốn cho mau cực. Vì đã cực thời cát hóa ra hung, hung hóa ra cát, là chỉ theo hoàn cảnh mà nói thời thế.

Nhưng đến nghĩa chữ Tùy, thời chẳng nói hoàn cảnh, mà chỉ nói tâm lí, tâm lí mình vui theo đâu thời Tùy đó. Vợ theo chồng, tớ theo thầy, quân lính theo tướng, cho đến người một đảng theo đảng khôi, người một nước theo quốc trưởng, thảy là nghĩa chữ Tùy, mà lại muốn cho Tùy đến cùng. Nếu Tùy chẳng đến cùng cực, thời thành ra tớ đến giữa đường mà bỏ thầy, quân đến giữa trận mà bỏ tướng, v.v...

Vì vậy, quẻ Tùy đến hào Thượng, thời hào từ có chữ Hanh, mà Tượng truyện cũng lấy chữ "Thượng cùng" mà thích nghĩa chữ Hanh.

Chúng ta phải biết rằng: Khi chưa Tùy phải hết sức cẩn thận lựa kén, mà sau khi đã Tùy rồi, tất phải tự thỉ chí chung.

Sử đời xưa, năm trăm nghĩa sĩ chịu chết theo Điền Hoành, mà chẳng chịu về Hán, ba vạn nghĩa dân ở thành Kim Lăng, cam tâm chịu chết với Lý Tú Thành, không một người chịu hàng quân Mãn Thanh, chỉ là Tùy vì tâm lí, mà chẳng Tùy vì hoàn cảnh, nên Tùy đến cùng cực mới là phải đạo. Đó là một biến lệ ở trong Dịch lí vậy. Học giả nên lưu ý.