Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 24 — Địa Lôi Phục 復

Trang in 278–287

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Địa Lôi Phục. Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Khôn thượng cũng là Ngoại Khôn.

Khôn vi Địa, Chấn vi Lôi.

Nên tên quẻ đọc bằng Địa Lôi Phục.

TỰ QUÁI

Tự quái: Bác giả bác dã, vật bất khả dĩ chung tận; Bác cùng thượng phản hạ, Cố thụ chi dĩ Phục.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Bác tiếp lấy quẻ Phục, là vì cớ sao?

Vật lí không bao giờ tuyệt đối cùng tận, Bác đến hào Thượng là cùng cực ở trên, tất quay trở lại ở dưới, nghĩa là: bác cùng thượng phản hạ.

Vậy nên sau quẻ Bác, tiếp lấy quẻ Phục.

Quẻ này nhất Dương ở dưới ngũ Âm, là Âm thịnh cực ở trên, mà Dương phục sinh ở dưới. Mà cũng là đạo tiểu nhân thịnh cực. Thịnh chi cực thời phải tiêu, đạo quân tử tiêu cực, tiêu chi cực thời lại trưởng. Nên đặt tên quẻ bằng Phục.

Phục: trở lại, cũng nghĩa là hoàn phản.

PHỤ CHÚ: Quẻ Bác vừa rồi, thời bắt vào quẻ Phục ngay, đảo ngược quẻ Bác thời thành quẻ Phục, chính là biến dịch ở trong Dịch học.

Tuy nhiên, bảo rằng biến dịch, há phải chốc phút mà biến dịch ngay đâu? Âm âm, trầm trầm, ngần ngần, nghĩ nghĩ, mà cái máy biến dịch vẫn quay luôn, không quay đủ mười hai giờ, thời ngày không biến được ra đêm, nhưng cái cơ sở dĩ biến dịch vẫn có luôn luôn.

Liệt Tử có câu rằng: Vận chuyển bất dĩ, Thiên địa mật di, trù giác chi tai, nghĩa là: vận chuyển không một phút nghỉ, trời đất vẫn ngầm ngầm dời đổi luôn, đố ai mà biết được. (Trù, nghĩa là ai).

Kinh Phật, đoạn thứ nhất, quyển thứ nhì, ở trong Kinh Lăng Nghiêm có nói rằng: Kì biến ninh duy nhất kỉ, nhị kỉ, thực duy niên biến, khỉ duy niên biến, diệc kiêm nguyệt hóa, hà trực nguyệt hóa, kiêm hữu nhật thiên.

Nghĩa là: Đạo lí ở trong đời phải có biến đổi, há những một kỉ hai kỉ có biến đổi, mà năm cũng vậy. Chẳng những năm có biến đổi, mà tháng cũng vậy, chẳng những tháng có biến đổi, mà ngày cũng vậy. Nhưng vì người ta không biết mà thôi. Đoạn Kinh văn trên ấy, tuy chỉ nói Phật lí, mà Dịch lí cũng như thế.

SOÁN TỪ

Phục, hanh, xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu; phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, lị hữu du vãng.

Quẻ này là Dương đi đã lâu ngày, mà bây giờ vừa trở lại, tượng như quân tử nấp đã lâu ngày, mà bây giờ lại trở lên, Dương trở lại, thời Thiên đạo có tượng hồi xuân, quân tử lên trở lại, thời thế đạo có cơ khai thái. Nên nói rằng: Phục hanh, nghĩa là: Dương đã phục, thời có lí hanh thịnh. Bởi vì, loài dương từ đó tiệm tiệm sinh trưởng hoài, loài quân tử từ đó tiệm tiệm dắt lên mãi. Nên chắc được hanh thịnh. Đến bây giờ giữa bản thân quân tử đã ra vào tự do, mà không việc gì khốn nạn. (Nhập, nghĩa là sinh nở ở trong; Xuất: phát triển ở ngoài; Vô tật: không tai nạn).

Xuất nhập mà được vô tật, tức là hanh, chẳng như thế mà thôi, mà lại từ đó sắp đi, quần dương lần lượt kéo về, bầy quân tử lần lượt dắt đến, còn có điều gì lầm lỗi nữa đâu. Chỉ giữa bản thân nhất Dương, thời vừa được xuất nhập vô tật, tất đến bằng lai là quần dương về cả, mới được vô cựu, ý nghĩa có thiển thâm. Vô tật, là thân thể được kiện toàn; vô cựu là sự nghiệp được hoàn thiện.

Xem như quẻ này thời biết lẽ tiêu trưởng của vận trời, tráo đi trở lại, trưởng rồi quay lại tiêu, tiêu rồi quay lại trưởng. (Phản phục: trở tráo).

Dương bắt đầu tiêu từ quẻ Cấu, nhất Âm thỉ sinh, trải qua bảy hào, tới đây Âm biến ra Dương, mà nhất Dương lại phục, nên nói rằng: Thất nhật lai phục (Thất nhật: bảy ngày). Lấy chữ Nhật thay chữ Hào, đổi thay bảy hào mà Dương sinh, ấy là Thất nhật.

Dương tiến, thời Âm thối, quân tử đạo trưởng, thời tiểu nhân đạo tiêu. Vậy nên Lị hữu du vãng, nghĩa là: quân tử tới lúc bây giờ có hành động những việc gì, tất cũng thuận lợi.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Phục hanh, cương phản; động nhi dĩ thuận hành, thị dĩ xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu. Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã. Lị hữu du vãng, cương trưởng dã. Phục kì kiến Thiên địa chi tâm hồ.

Soán viết: Phục hanh, cương phản.

Sở dĩ Phục mà hanh, bởi vì, dương cương đã quay trở về, thời chắc được hanh. (Chữ Phản là thích nghĩa chữ Phục).

Trước kia, là nhất Dương ở trên cùng quẻ Bác, bây giờ nhất Dương trở lại mà sinh vào dưới quẻ Phục, ấy là cương phản.

Động nhi dĩ thuận hành, thị dĩ xuất nhập, vô tật, bằng lai vô cựu.

Lại xem bằng Đức quẻ, Nội Chấn là tính động, Ngoại Khôn là tính thuận. Thế là hoạt động mà chỉ thuận theo bằng đạo trời.

Bởi vì, động là thuận, nên được xuất nhập vô tật, bằng lai vô cựu.

Phản phục kì đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã.

Âm Dương tiêu trưởng phản phục tuần hoàn, trải qua bảy hào biến động, nhất Dương lại sinh. Đó cũng là vận trời lưu hành như thế.

Lị hữu du vãng, cương trưởng dã.

Dương cương đã sinh, thời trưởng thịnh lần lần, Phục rồi thời Lâm, thời Thái, thời Đại tráng, thời Quải, trưởng mãi cho đến lúc thuần Càn, tấn hành chắc được thuận lợi lắm. Nên nói rằng: Lị hữu du vãng, cương trưởng dã.

PHỤ CHÚ: Soán từ quẻ Bác, Bất lị hữu du vãng, Truyện thích rằng: Tiểu nhân trưởng dã. Soán từ quẻ Phục, Lị hữu du vãng, Truyện thích rằng: Cương trưởng dã.

Chữ Tiểu nhân ở quẻ Bác, cũng có thể thay làm chữ Nhu; chữ Cương ở quẻ Phục, cũng có thể thay làm chữ Quân tử; Kinh văn đắp đổi cho rõ ý, học giả cũng nên đắp đổi xem cả hai bên, thời biết Cương với Nhu, Quân tử với Tiểu nhân, thường tráo nhau mà tiêu trưởng.

Phục kì kiến Thiên địa chi tâm hồ.

Ở thì Phục này là thấy được tâm của trời đất đó mà.

PHỤ CHÚ: Một câu này ý nghĩa cực kì hay, đạo lí cực kì rộng, mà giải thích lại cực kì khó.

Thiên địa chi tâm, vẫn cắt nghĩa là lòng của trời đất, nhưng theo mắt tục ta mà xem, thời Thiên chỉ là không khí bung lung, Địa chỉ là mặt trái của đất, làm gì mà có tâm. Mà tâm thời ở chốn nào? Cớ sao Dịch lại nói rằng: Thiên địa chi tâm. Cớ sao lại nói ở chốn Phục thời thấy được. Muốn giải quyết nghi nghĩa ấy, phải đặt ra ba câu đoán ngữ:

Một là, phải đoán định rằng: Thiên địa vận có tâm. Hai là, tâm của Thiên địa tất có chốn mà ta tìm thấy. Ba là, muốn thấy được tâm của Thiên địa, tất phải xem ở nơi múi động. Bây giờ xin trục thứ giải thích cho kỹ càng:

Hễ giống hữu sinh ở trong Vũ trụ, không giống gì là không tâm. Tỉ như: cây phải có hạt trái cây, hoa phải có nhụy hoa, nhất thiết động vật phải có ruột. Có giống gì là giống không tâm đâu, há có lẽ rất cao, rất lớn, rất bao bọc vô cùng như Thiên địa mà lại không tâm rư?

Tứ thì vì cớ sao mà vận hành không nghỉ, vạn vật vì cớ sao mà sinh dục không thôi, các tinh cầu vì cớ sao mà luân chuyển không dừng, là chỉ vì Thiên địa có tâm mà tác dụng được như thế. Tâm Thiên địa ở chốn nào? Chỉ ở chốn khí cơ thường hoạt động. Nếu một ngày cái động cơ nó chết, tức là tâm của Thiên địa chết. Trình Tử có câu: Động chi đoan nãi thiên địa chi tâm. Câu ấy rất hay, nên muốn tìm cho được Thiên địa chi tâm, tất phải tìm ở nơi múi động, tìm được múi động, thời thấy được Thiên địa chi tâm.

Múi động thời tìm ở chỗ nào? Tất phải tìm ở nơi quẻ Phục. Lí do như thế này, trước kia còn quẻ Khôn thuần Âm, bao nhiêu sinh khí đương âm trầm lặng lẽ, giống gì, giống gì tất thảy cơ hồ chết ngắt; bỗng chốc, mà một nét hào Sơ biến động ở dưới hết, mà hóa ra nhất Dương, lòng sinh vật của Thiên địa bây giờ mới trình lộ, nên nói rằng: Phục kì kiến Thiên địa chi tâm.

Nguyên lai, tâm của Thiên địa, chỉ cốt ở sinh ra vạn vật, muốn cho vạn vật sinh sinh mãi mà không bao giờ cùng. Nhưng vật sở dĩ sinh được, là cốt nhờ ở dương khí, nếu nhất đán dương khí chết, thời vạn vật cũng chết, còn gì là Thiên địa chi tâm.

Chúng ta thử xem bao nhiêu động vật, thực vật. Nếu một giờ, không không khí, không nhật quang, thời chẳng bao lâu mà chết ngột, không khí với nhật quang chính là dương khí làm ra, nên xem ở quẻ Nhất Dương phục sinh, thời thấy được Thiên địa chi tâm.

Tuy nhiên, tới Phục mới thấy được Thiên địa chi tâm hay sao? Thế thời ở ngoài Phục không thấy được Thiên địa chi tâm hay sao?

Không phải thế, toàn Vũ trụ từ vô thỉ đến vô chung, có bao giờ Thiên địa chi tâm chết đâu, mà Thiên địa chi tâm cũng không bao giờ thay đổi. Nhưng chỉ vì thì gian quá chừng dài, không gian quá chừng rộng, vạn tượng quá chừng phức tạp. Chúng ta biết lấy đâu làm manh múi mà tìm ra được Thiên địa chi tâm. Duy ở trong lúc nhất Dương sơ động, chính như ở lúc trong đêm tối, mà bỗng chốc có một tia sáng lòe ra, chúng ta mới bắt manh múi đó, mà tìm được Thiên địa chi tâm; chẳng những Thiên địa chi tâm mà nhân tâm cũng vậy. Tỉ như: Lúc chúng ta ứng sự tiếp vật, lộn nhộn lạo nhạo, thời tâm chúng ta thiện hay ác, vẫn không múi manh gì mà tìm cho ra. Nhưng đến lúc đêm khuya thanh vắng, giấc ngủ đương say, khi ngủ rồi thột nhiên tỉnh dậy, tinh thần lúc đó vừa mới manh động, mà cái cơ tính thiện mới phát hiện ra, chỉ trong một lúc khoảnh khắc đó, cũng tất là nhất Dương sơ sinh, có thể nói rằng: Động chi đoan là thấy được nhân chi tâm, mà nhân chi tâm cũng là Thiên địa chi tâm. Duy những hạng người trầm mê vì vật dục, trót một đời người chỉ làm tôi tớ cho vật chất, thời không thấy được nhân chi tâm mà thôi.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: lôi tại địa trung, phục, tiên vương dĩ chí nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương.

Chấn ở dưới, Khôn ở trên, tượng là sấm nấp ở dưới đất, là tượng quẻ Phục. Tiên vương xem Tượng quẻ ấy, thấy được nhất Dương mới sinh ở phía dưới, măng mậm còn non, nên yên lặng êm đềm, sẽ để nuôi lấy khí Dương đương còn bé. Vậy nên ngày Đông Chí là ngày dương thỉ sinh, ư ngày ấy đóng các cửa quan, khách buôn bán nghỉ không đi.

Vị Quốc trưởng nghỉ không đi xem xét các địa phương.

Chí nhật, nghĩa là ngày Đông Chí; Bế quan, nghĩa là đóng cửa; Thương, là người đi buôn; Lữ, là khách đi đường; Tỉnh, nghĩa là xem xét; Phương, nghĩa là các địa phương; Hậu, nghĩa là người Quốc trưởng.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Cửu, bất viễn phục, vô kì hối, nguyên cát.

Sơ Cửu ở đầu hết quẻ Phục, có đức dương cương, lại ở đầu quẻ, là phục được trước nhất ở trong thì Phục. Tuy có lầm lỗi nhưng trải qua thì gian chẳng xa mà đã trở lại tốt lành, phục được mau chóng thế, thời không đến nỗi ăn năn lớn (Chữ Kì như nghĩa chữ Đại; Vô kì hối, nghĩa là không ăn năn lớn).

Như thế, thời được đạo lành lớn mà tốt. Xưa thầy Nhan bất nhị quá, nghĩa là: dầu có điều lỗi, nhưng chỉ lỗi một lần mà thôi, không bao giờ lầm lỗi đến hai lần.

Đức Khổng tán cho thầy Nhan rằng: Có điều gì chẳng lành tức khắc biết ngay; đã biết tức khắc đổi ngay.

Chóng cải quá được như thầy Nhan, chính đúng với hào từ Sơ Cửu này.

Tượng viết: bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã.

Công phu Phục nên chóng gấp ư khi còn bất viễn. Nếu đã viễn rồi mới phục, thời phục đâu kịp, nên công phu tu thân của quân tử, không gì quý hơn chóng đổi điều lỗi. Nên nói rằng: Bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã.

2. - Lục Nhị, hưu phục, cát

Hào Lục Nhị là âm nhu đắc trung đắc chính, mà thân cận với hào Sơ là Dương hào, là một người quân tử; Nhị biết thân cận với quân tử, mà hạ với hào Sơ, ấy là phục mà tốt đẹp đó vậy (Hưu: tốt). Đức Khổng có câu nói: Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nghĩa là: Khắc khử được lòng riêng mình, hồi phục lại được lẽ trời, thời là nhân; Nhị này được như thế nên được cát.

Tượng viết: hưu phục chi cát, dĩ hạ nhân dã.

Lục Nhị mà được hưu phục cát, bởi vì hay thân hạ với người nhân vậy.

(Nhân là chỉ vào hào Sơ; Hạ nhân, là thân hạ với hào Sơ).

PHỤ CHÚ: Toàn bộ Dịch ba trăm tám mươi tư hào, không tượng từ nào nói chữ Nhân, chữ Nhân chỉ nói ở hào này, Thánh nhân nghĩ rằng: Nguyên đặt ra chữ Nhân, bên tả chữ Nhân là người, bên hữu hai nét ngang cân bằng nhau, rất có ý nghĩa. Bởi vì, Nhân là bản tâm của người, khi đầu ở trong bụng mẹ vẫn sẵn có bản tâm ấy, có bản tâm ấy mới gọi là người, nên sách Trung Dung có câu: Nhân giả nhân dã, nghĩa là: gọi bằng Nhân, chỉ có chân lí sở dĩ làm người mà thôi; lòng của trời đất sở dĩ sinh ra người, cũng chỉ ở đức Nhân, người có lòng tốt ấy, thời muốn việc lành từ đó mà nảy ra, tượng như trái có hạt mộng mới sinh nở ra cây, tục ta thường gọi hạt cây bằng nhân, như đào nhân, qua tử nhân, hạnh nhân, v.v... cũng là lẽ ấy.

Quẻ Phục này là quẻ miêu tả tâm sinh vật của Thiên địa, mà tâm sinh vật của Thiên địa, chính là đức Nhân.

Sơ Cửu quẻ Phục chính là nhất Dương làm gốc cho Thiên địa sinh vật. Nên Thánh nhân lấy chữ Nhân đặt vào hào này, muốn cho chúng ta biết đúng cách làm người, tất phải giữ đức Nhân, mà muốn giữ đức Nhân tất phải đại công vô tư, không chia người, không chia mình.

Phật gia cũng có câu: Vô ngã tướng, vô nhân tướng, là gọi bằng Nhân. Thầy Trình thích nghĩa chữ Nhân có nói rằng: Nhân giả thiên hạ chi công, thiện chi bản dã, nghĩa là: Đức Nhân là lẽ công của thiên hạ, cội gốc của muôn điều lành, rất hợp với lí Thánh nhân.

Hai nét ngang ở bên hữu chữ Nhân, bằng cân như nhau, nghĩa là người với người phải nhất thị Đồng Nhân không riêng với ai, cũng không riêng với mình, có như thế mới làm được người, chỉ xem ở mặt chữ chữ Nhân, mà nghiền cho ra ý, thời cũng hiểu.

3. - Lục Tam, tần phục, lệ, vô cựu.

Hào Lục vị Tam, bất trung bất chính, lại ở về cuối cùng thể Chấn, là động chi cực, chính là một hạng người trì thủ bất kiên, theo điều lành mà không được chắc chắn, biết chữa lỗi mà lại thường mắc lấy lỗi, thất đi, phục lại, phục lại, thất đi. (Tần, nghĩa là hằng hằng).

Vì hằng hằng thất, nên Thánh nhân răn cho rằng: như thế, thời cũng nguy đó. May cho Tam hằng hằng thất, mà lại hằng hằng phục, thời kết quả cũng không lỗi.

(Lệ, là tội tại Tần thất; Vô cựu, là may vì hay Tần phục).

Tượng viết: tần phục chi lệ, nghĩa vô cựu dã.

Lục Tam vì hay quá thất, tuy có nguy lệ, nhưng mỗi lần thất, thời hay mỗi lần phục, ư nghĩa phục thiện, cũng là vô cựu.

4. - Lục Tứ, trung hành, độc phục.

Chữ Trung này chỉ nghĩa là giữa, không phải nghĩa là đắc trung.

Nguyên quẻ Phục này năm hào Âm là năm tiểu nhân, chỉ một hào Sơ dương là quân tử.

Lục Tứ tuy cũng cư âm, nhưng mà đắc chính, Tứ đi vào chính giữa năm hào Âm, dưới có Nhị, Tam, trên có Ngũ, Thượng, mà một mình Tứ chính ứng với hào Sơ. Thế là bỏ vất cả bầy tiểu nhân để theo với một bậc quân tử. Nên hào từ rằng: Trung hành độc phục, nghĩa là: Đi giữa bầy ác, mà một mình phục theo thiện nhân.

PHỤ CHÚ: Theo như lệ các hào, thời Lục Tứ đáng được nói chữ Cát, cớ sao hào từ không nói Cát, mà cũng không nói Vô cựu. Đó là thâm ý của Thánh nhân chính hay ở nơi không chữ. Bởi vì, một mình Tứ theo Sơ, mà thế lực quần Âm thời còn mạnh, thế lực Sơ dương thời còn hèn. Một con phượng ở giữa bầy cú, một hòn ngọc ở giữa chòm đá, đã chắc gì thay đổi được hoàn cảnh mà vội dám nói Cát. Nếu nói hung, thời không phải hung, nên Thánh nhân chỉ khen cho hai chữ Độc phục.

Chữ Độc phục này in như câu của ông Khuất Nguyên: Chúng nhân giai trọc, ngã độc thanh, chúng nhân giai túy, ngã độc tỉnh. Chỉ một chữ Độc là giá trị của Tứ rất cao, còn như không nói Cát, Hung, lại in như câu của ông Khổng Minh.

Thành, bại, lị, độn, phi sở năng nghịch đổ, nghĩa là: nên hay thua, sắc hay lụt, không thể thấy trước được; hiền nhân quân tử chỉ cốt làm điều phải mà thôi.

Tượng viết: trung hành độc phục, dĩ tòng đạo dã.

Hào từ sở dĩ lấy chữ Độc phục khen cho Lục Tứ, là vì Tứ biết phục theo đạo dương cương của quân tử vậy (chữ Đạo là chỉ vào Sơ Cửu, cũng như chữ Nhân ở tượng từ Lục Nhị).

5. - Lục Ngũ, đôn phục, vô hối.

Hào Lục ở vị Ngũ là nhu thuận đắc trung, lại ở vị tôn. Đương ở thì Phục lại ở giữa thể Khôn là có đức dày, chính là một người phục thiện lại rất dày bền (Đôn, là dày bền). Nên rằng: Đôn phục vô hối; phục thiện mà dày bền thời chắc vô hối.

Tượng viết: đôn phục vô hối, trung dĩ tự khảo dã.

Lục Ngũ lấy đạo trung tự thành lấy mình, hay phục thiện bằng một cách dày bền, nên Tượng truyện khen cho rằng: Trung dĩ tự khảo. Khảo, cũng nghĩa như chữ Thành. Tự khảo, nghĩa là mình tự thành mình mà không chờ ai dạy bảo.

Trong bốn hào, Nhị còn phải hạ nhân. Tứ còn phải tòng đạo, la phải nhờ thầy là Sơ dạy bảo, duy Ngũ thời tự khảo lấy mình mà thôi, thiệt là chất tốt hơn Nhị. Tứ nhiều lắm, mà căn bản lại cốt ở chữ Trung. Kinh Thư có câu rằng: Duy trinh duy nhất, doãn chấp quyết trung, nghĩa là:

Xem xét đạo lí cho rất tinh, giữ gìn đạo lí cho chuyên nhất, tin hay cầm được đạo Trung, chính là nghĩa Tượng hào này, Tinh nhất, là công phu tự khảo; Chấp trung là nghĩa chữ Trung ở Tượng hào này.

6. - Thượng Lục, mê phục, hung: hữu tai sảnh, dụng hành sư, chung hữu đại bại; dĩ kì quốc quân hung, chí vu thập niên, bất khắc chinh.

Thượng Lục ở cuối cùng quẻ Phục, mà lại ở trên hết năm Âm, chính là một đứa tiểu nhân, từ đầu chí cuối ở giữa thì Phục. Phục mà hôn mê đến thế, tượng là một người đi lầm đường cho đến cuối cùng, có gì không xấu nữa đâu, chắc kết quả hào này e có cả tai vừa sảnh. (Tai, là vạ tự ngoài đưa đến; Sảnh, là lỗi tự mình gây ra).

Vì Thượng Lục là một người có thế lực nhất ở trong bầy tiểu nhân. Thượng không chịu thấy tai sảnh mà cải hối. Thượng lại toan cậy võ lực mà sinh quyền uy, đem quân gia súng đạn mà áp phục người ta, nhưng cuối cùng Thượng tất đại bại. Khi Thượng đã đại bại, thời nước của Thượng, vua của Thượng, tất thảy vì Thượng mà khốn nạn cả.

Nếu Thượng mà không mê phục, họa may giữa đường mà biết quày lại chăng, nhưng Thượng không mong được thế, điên cuồng hoài, bể đổ hoài, đến lúc số đã cùng, vận đã kiệt, mà không một bước nào tấn lên được. Thập niên là lấy số chung mà nói. Hễ kể số nhất là thỉ, thập là chung. Thập niên bất khắc chinh, chỉ nghĩa là chung cục không ra gì, chứ không phải hạn định là mười năm.

Tượng viết: mê phục chi hung, phản quân đạo dã.

Chữ Quân không phải nghĩa là vua, mà nghĩa là chủ. Hễ làm chủ trong một đám, thời gọi bằng Quân được, cha mẹ gọi bằng Nghiêm quân, vợ trong nhà gọi bằng Tế quân, thảy Quân nghĩa là chủ. Quẻ Phục này, nếu không hào Sơ dương, thời chỉ là quẻ Khôn, nên hào Sơ là chủ quẻ Phục. Bây giờ Thượng Lục hôn mê, mà không phục với Dương, là trái với đạo dương cương của Sơ Cửu. Nên nói rằng: Phản quân đạo dã.

Chữ Quân là chỉ vào Sơ dương, vì Sơ dương làm chủ ở quẻ Phục, Thượng Lục tuyệt với Sơ dương, là trái với đạo chủ.

PHỤ CHÚ: Xem suốt từ Quái từ, hào từ thời biết rằng: Khí số với Nhân sự thường tương phản, mà lại tương thành, Quái từ chỉ nói bằng số khí thời Âm đã đến lúc tiêu, Dương đã đến lúc trưởng. Nên nói rằng: Phục hanh, vô tật, vô cựu; tuy là Khí số vẫn đến hồi tốt, nhưng có lẽ đâu ở trong thiên hạ chỉ có Khí số mà không Nhân sự rư? Nếu Khí số thuận mà Nhân sự nghịch thời Khí số cũng không uy quyền gì. Nếu Khí số nghịch mà Nhân sự thuận, thời Nhân sự cũng có thế lực lắm. Vậy nên hào từ ở sáu hào, bỏ quách Khí số mà chuyên nói Nhân sự. Hào Sơ vì thiên thiện lanh chóng, thời được nguyên cát; hào Nhị vì biết thân hiện lạc thiện, thời được cát, đó là Nhân sự ưu, thời thắng, có ỷ lại Khí số đâu? Tam hay tần phục, thời được vô cựu; Tứ hay độc phục, cũng được khỏi hung, hối, lẫn; Ngũ vì đôn phục, mà được vô hối, đó là lấy Nhân sự thắng được Khí số.

Duy Thượng Lục thời vì mê phục mà đến nỗi hung vừa tai sảnh.

Xem hết sáu hào thời biết rằng: Cũng chung một vận hội, chung một thời, thế mà lành dữ trái nhau, như thế mới biết cát, hung cốt ở Nhân sự có phải, chăng, hay, quấy; chứ Khí số bao giờ hạn định được đâu.

Tả truyện có câu: Thiên định năng thắng nhân, nhân định diệc năng thắng thiên, nghĩa là: Thiên số nhất định vẫn được người, nhưng Nhân sự đến khi nhất định, cũng hơn được trời, chính là đạo lí của Dịch vậy.