Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 25 — Thiên Lôi Vô Võng 无妄
Trang in 288–295
Quẻ này là quẻ Thiên Lôi Vô Võng. Chấn hạ cũng là Nội Chấn; Càn thượng cũng là Ngoại Càn.
Càn Thiên, Chấn Lôi, nên tên quẻ đọc bằng Thiên Lôi Vô Võng.
TỰ QUÁI
Tự quái: Phục, tắc bất vọng hĩ, cố thụ chi dĩ Vô Võng.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng, là cớ vì sao?
Bởi vì, đã Phục rồi thời không Càn, nên sau quẻ Phục tiếp lấy quẻ Vô Võng.
Võng, nghĩa là Càn. Người ta sở dĩ làm càn, là vì quên mất thiên lí. Hễ đã biết trở lại theo thiên lí, thời có làm càn nữa đâu. Vậy nên sau quẻ Phục, tiếp lấy quẻ Vô Võng.
Theo về Tượng quẻ, Càn trên, Chấn dưới; Chấn, nghĩa là động; Càn, nghĩa là trời; phát động bằng tư tưởng, hoạt động bằng hành vi, mà tất thảy hợp với lẽ trời, ấy là vô võng. Nếu có mảy may vì nhân dục mà động, thời là Võng.
SOÁN TỪ
Vô võng, nguyên hanh, lị trinh, kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng.
Nghĩa hai chữ Vô Võng giải thích cho đến nơi, thời chỉ duy Thiên đạo với Thánh nhân mới đúng được hết. Nguyên lai, ở trong Vũ trụ, sẵn có lí tự nhiên, theo ở lí tự nhiên, không cần phải tạo tác, đó là vô võng thuộc về Thiên đạo. Đến như các sự vật, thời có lí đương nhiên, không pha vào tư ngụy. Đó là vô võng thuộc về Thánh đức.
Nhưng mà, vì có tự nhiên mới đẻ ra đương nhiên, lại lấy đương nhiên mà hợp với tự nhiên, ấy là Thánh tức Thiên, Thiên tức Thánh, mà tổng chi gọi bằng Vô Võng.
Ở trong Phật học rất ghét là chữ Võng, mà Dịch rất quý là Vô Võng, người ta nếu làm đến vô võng, thời đạo hợp với trời, đức hợp với Thánh, chắc được Đại hanh. Vô võng là tạo nhân, đại hanh là kết quả. Nên nói rằng: Vô võng nguyên hanh. Tuy nhiên, thường tình người ta, phần nhiều là có tư dục tà tâm, họa may trong một đời người có một tư tưởng gì, một hành vi gì, tình cờ mà hợp được vô võng, chốc phút thoảng qua lại võng ngay, thế không phải là vô võng. Hễ đã vô võng tất phải vô võng hoài hoài, tự tiểu chí đại tự thỉ chí chung, không một tí gì không hợp với chính lí, nên Thánh nhân lại dạy cho hai chữ Lị trinh, nghĩa là, vô võng là cốt hợp với chính lí. Tà tâm tức là vô võng. Nên lại tiếp lấy câu: Kì phỉ chính, hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, nghĩa là, có việc gì không phải chính lí, tất nhiên có tội lỗi, mà không lị ư làm mỗi việc.
PHỤ CHÚ: Theo về bản dịch đời sau thời chữ Võng, Võng là Càn, theo về bản cổ dịch thời chữ Võng, Võng là trông, nghĩa là: việc gì chính đạo, chính lí thời cứ làm, không kì vọng sở đắc, hoặc vì danh dự mà làm, hoặc vì công lí mà làm, tổng chi hữu sở kì vọng mà làm. Đã hữu sở kì vọng, thời không phải là vô võng, tất phải vô sở kì vọng mà cứ làm, mới là vô võng.
Thầy Trương có câu: Vô sở vị nhi vi giả, quân tử dã, nghĩa là: Đã làm điều phải, tự nhiên mà làm, ấy là quân tử; câu Vô sở vị nhi vi, là đúng với nghĩa chữ Vô Võng.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: vô võng, cương tự, ngoại lai, nhi vi chủ ư nội; động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã; kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai.
Soán viết: vô võng, cương tự ngoại lai, nhi vi chủ ư nội.
Quẻ Vô Võng này sở dĩ thành quẻ, gốc ở Nội Chấn, Chấn nguyên là Khôn, hào sơ Khôn biến ra nhất Dương mà làm Chấn. Thế là hào Dương tự ngoại lai mà làm chủ cho Nội quái. Chữ Vi chủ, ngậm có hai nghĩa: Chấn động thể làm chủ cho vô võng, mà hào Sơ lại làm chủ cho Chấn, có hào Sơ mới thành quẻ Chấn, lại có Chấn mới thành được quẻ Vô Võng, nên hào Sơ làm chủ cho quẻ Vô Võng.
Động nhi kiện, cương trung nhi ứng, đại hanh dĩ chính, thiên chi mệnh dã.
Thể dưới là Chấn động, thể trên là Càn kiện, thế là động bằng một cách cương kiện.
Ngũ có đức dương cương ở vị trung chính. Nhị cũng lấy trung chính ứng với Ngũ. Như thế là hợp với đạo Vô võng, đã vô võng tất được đại hanh mà chính. Đó há phải khôn riêng của người mà làm nên đâu, vẫn chân lí tự nhiên của trời là như vậy.
Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng, vô võng chi vãng, hà chi hĩ, thiên mệnh bất hựu, hành hĩ tai.
Quái từ lại có câu: Kì phỉ chính hữu sảnh, bất lị hữu du vãng. Bởi vì, hễ vô võng tất là chính, đã chính rồi thời không nên tha thích. Nếu bỏ chính mà tha thích, thời còn đi vào đâu được. (Chi, nghĩa là đi; Hà chi, nghĩa là đi đâu được).
Bởi vì, trái với chính lí, tức là trái với đạo trời, tất nhiên trời không bênh vực, trời không bênh vực, mà còn đi được hay sao? Chữ Hĩ tai, ý là không đi được; chữ Hĩ cắt nghĩa theo chữ Hồ.
PHỤ CHÚ: Câu Vô võng chi vãng, khó giải thích lắm, vì văn lí thừa tiếp câu: Phỉ Chính hữu sảnh. Nếu ở dưới chữ Vô võng thêm hai chữ Phỉ Chính vào mà đọc rằng: Phỉ Chính chi vãng thời thông ngay, ý nói rằng: ở giữa thì vô võng, mà mình lại lấy phỉ chính mà vãng, thời đi đâu được. Nhưng vì Kinh văn quá giản tắt, chúng ta nên hội ý, không nên nệ vào chữ. Nếu đọc suông Vô võng chi vãng, thời không chạy xuống được mấy câu dưới. Đó cũng là cách học nghĩa Kinh.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: thiên hạ lôi hành, vật dữ vô võng, tiên vương dĩ mậu đối thì, dục vạn vật.
Đây cũng là một cách biến hóa ở trong Tượng truyện. Mỗi nơi, chữ tên quẻ thời cắt nghĩa bằng tên quẻ; nhưng Tượng truyện đây thời chữ Vô võng lại không cắt nghĩa bằng tên quẻ, mà cắt nghĩa bằng đạo lí quẻ. Nên Tượng nói rằng: Ở dưới trời mà có sấm đi. Thế là: Nhị khí hòa hợp, Âm Dương xát nhau mà thành ra tiếng. Lúc bấy giờ giống trập trùng kinh động, giống cây có mậm măng, vật nào vật nấy tất thảy phú dữ cho nó một cách vô võng, tức là tính mệnh của nó.
Tiên vương xem Tượng ấy, thể đạo trời mà sắp đặt một cách nhân dân ái vật, mậu đối thiên thì, dưỡng dục khắp vạn vật. (Mậu: thịnh; Đối: thuận hợp; Dục: nuôi nấng. Chữ Mậu trùm cả năm chữ: "Đối thì, dục vạn vật").
Đối phó với thì trời, trưởng dục được vạn vật, mà công nghiệp lại cực kì thịnh. Đó là vô võng của Thánh nhân, mà in như vật dữ vô võng của Thiên đạo. Đối thì, tỉ như: mùa Xuân thời dạy dân cày; mùa Thu thời dạy dân gặt; vì phòng ngự nước lụt, mà dạy dân làm kiều lương; vì phòng ngự Đông hàn, mà dạy dân tàm tang trừ súc, tất thảy là đối thì dục vật.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, vô võng, vãng cát.
Sơ Cửu có đức dương cương, làm chủ cho Nội quái, chính là một hạng người có đức chí thành, trong lòng hồn nhiên thiên lí, thiệt là vô võng, vô võng mà tấn hành, thời không chốn nào không tốt.
Tượng viết: vô võng chi vãng, đắc chí dã.
Cửu gốc là thể Càn, Sơ lại về thể Chấn, ấy là động mà hợp đạo trời. Có đức chí thành vô võng như thế, thời tu thân chắc thân phải chính, xử sự chắc sự phải thuận, cảm hóa người thời người phải hóa, có đi đâu mà không thuận thỏa chí mình nữa rư?
2. - Lục Nhị, bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lị hữu du vãng.
Lời hào Lục Nhị là mướn việc người cày để hình dung tâm lí vô võng. Canh, cày: là việc bắt đầu của nhà nông; Hoạch: gặt lúa: là việc thành công của nhà nông; Tri: ruộng mới phá được một năm, là việc bắt đầu của nhà khẩn ruộng; Dư: ruộng thuộc đã ba năm, là việc thành công của nhà khẩn ruộng.
Tòng lai, sự lí trong thiên hạ, đã có tạo nhân, tất có kết quả, mà kết quả việc trước, tức là tạo nhân cho việc sau.
Hễ đã canh, tất nhiên có hoạch, hễ đã tri, tất nhiên có dư. Đó là sự lí tự nhiên, mà cũng là công việc đang nhiên; thuận lí ứng sự không đặt tự ý mình vào.
Tỉ như: Một nhà nông phu, lúc đương nên canh mà canh, không cần nghĩ đến canh để mà hoạch, gặp lúc đương tri mà tri, không để ý đến tri để mà dư. Nghĩa là, thuận lí tự nhiên mà làm, nhân việc đang nhiên mà làm, bề ngoài hình thức vẫn có tạo tác, mà bề trong tinh thần in như một cách vô vi, tâm lí người vô võng là như thế. Lục Nhị cư trung đắc chính lại ứng với hào Ngũ cũng trung chính, ở vào động thể mà có tính thuận, là động mà hay thuận với trung chính, thiệt là một hạng người vô võng. Thánh nhân lấy lời tỉ dụ mà hình dung cho đến tâm lí, nên nói rằng: Bất canh hoạch, bất tri dư, giảng nghĩa vắn tắt thời chỉ nói rằng: chẳng ư lúc canh mà nghĩ đến hoạch, chẳng ư lúc tri mà nghĩ đến dư. Hễ nghĩa lí đáng làm, mà không hê công mưu lị. Thế là vô võng. Đã vô võng thời Lị hữu du vãng.
PHỤ CHÚ: Xem như nghĩa hào này cũng có thể gọi bằng Vô võng chi phúc, canh tất nhiên được hoạch, tri tất nhiên được dư, không cần phải bo bo cầu phúc, mà phúc tự nhiên đến, cũng là ý nghĩa hào từ này.
Tượng viết: bất canh hoạch, vị phú dã.
Hào từ sở dĩ nói rằng: Bất canh hoạch, nghĩa là: dầu có canh có tri, mà không phải để ý đến hoạch dư cho được giàu vậy.
Canh tri, là công việc làm; Hoạch dư, là hiệu quả lợi, không phải nghĩ được hoạch dư mà làm, nên Tượng truyện nói rằng: Vị phú.
Chữ Vị như nghĩa chữ Phi, như nghĩa chữ Vị ở câu: Vị thuận mệnh quẻ Lâm, vị là chẳng phải. Chữ Phú này, như nghĩa chữ Phú ở câu: Phi phú thiên hạ dã ở sách Mạnh Tử.
3. - Lục Tam, vô võng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.
Trước hết, thích nghĩa đen theo câu, theo chữ.
Tai thuộc về vô võng, thí dụ: có kẻ cột trâu cạnh đường, người đi đường được lấy, mà người trong ấp đó trở lại bị tai hại, là vì người mất trâu nghi oan cho ấp nhân trộm trâu.
Nói cho đúng, thời ấp nhân bị tai ách, giữa đường quàng vào cổ, nhưng tai đó vẫn là thình lình tự nhiên đưa đến, nên nói rằng: Vô võng chi tai.
Nguyên theo thông lệ trong Kinh Dịch: hễ sáu hào ở quẻ nào, mỗi một hào xử một địa vị hào ấy, mà cũng tất thảy xử chung vào thì đại quẻ ấy. Sáu hào ở quẻ Vô Võng, là ở vào thì Vô võng, vị Vô võng, tất thảy là vô võng cả. Duy tùy giữa bản thân hào mà khác nhau: hào Lục vị Tam vẫn bất trung bất chính, chính là một người vọng. Ở thì Vô võng, mà mình lại vọng, tất bị mắc tai, nhưng tai đó cũng là vô cố mà mắc. Nên nói rằng: Vô võng chi tai.
Tượng như người đi đường thời được trâu, mà những người ở chốn mất trâu đó, lại bị hiềm nghi về tội giấu trâu, thiệt là tai vô võng đó vậy. Bởi vì, tai đó không tưởng có mà có, ở vào thì Vô vọng, thời như thế cũng là vô võng.
Tượng viết: hành nhân đắc ngưu, ấp nhân tai dã.
Trâu thời người đi đường được, mà tai thời khiến cho ấp nhân chịu. Ở vào đời Vô võng, thế chẳng phải là tai vô võng hay sao?
4. - Cửu Tứ, khả trinh, vô cựu.
Cửu Tứ dương cương ở về Càn thể, trên dưới không ứng dự với ai, là một hạng người cảnh giới vô tư. Thiệt là một người vô võng đó vậy, nên bền chặt giữ lấy tư cách ấy, tự nhiên được vô cựu.
PHỤ CHÚ: Chữ Trinh thường thích có hai nghĩa: một nghĩa trinh là chính, một nghĩa trinh là bền.
Hễ chữ Lị trinh thời kiêm cả hai nghĩa, chính và bền; như chữ Khả trinh thời trọng về nghĩa bền, cũng nghĩa là cố thủ; như chữ bất khả trinh ở quẻ Cổ, thời chỉ thích nghĩa là bền, mà không nghĩa trinh là chính. Nếu trinh là chính, thời không bao giờ bất khả.
Xem Văn Kinh chớ nhận lầm những chốn ấy.
Tượng viết: khả trinh vô cựu, cố hữu chi dã.
Khả trinh vô cựu là bảo phải bền giữ nguyên sở hữu của mình vậy. (chữ Hữu, như nghĩa chữ Thủ: là giữ).
5. - Cửu Ngũ, vô võng chi tật, vật dược hữu hỉ
Cửu Ngũ dương cương ở chính giữa thể Càn, đủ đức trung chính, lại ở tôn vị, dưới có hào Nhị ứng với mình cũng trung chính, thiệt là vô võng đến cực điểm, ở thì Vô võng thiệt không còn gì hơn nữa.
Nếu chẳng may có đụng phải tật bệnh gì, cũng chẳng qua tai bay vạ bốc, thời chỉ nên bình tâm thuận lí, yên xử như thường, mà tai họa tự nhiên tiêu tán. Nên nói rằng: Vô võng chi tật, vật dược hữu hỉ, nghĩa là: Đã vô võng rồi, nếu tình cờ mà có tật cũng là tật vô võng, chớ dùng đến thuốc, mà tự nhiên mừng được bệnh lành.
Chữ Vật có nghĩa là cấm chỉ. Bởi vì: Vô võng mà được tật là tật vô võng. Nếu đưa thuốc vào té ra võng. Vậy nên cấm chỉ dùng thuốc.
PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Ngũ này, tỉ như đại Thánh đại Hiền ngày xưa, rủi gặp hoạn nạn, hoặc bị sàm báng, các ngài cũng chỉ tố nhi vi hành, mà tự nhiên sàm báng hoạn nạn tiêu diệt hết.
Như vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lí, như đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái, chỉ có vô võng chi tất, có cần dùng đến thuốc đâu.
Phương thư có câu nói rằng: Kiến quái, bất quái, Kì quái tự diệt cũng tương tự như nghĩa hào này.
Tượng viết: vô võng chi dược, bất khả thí dã.
(Thí: thử nếm, cũng nghĩa là nếm chút đỉnh).
Hễ thuốc là dùng để chữa bệnh võng, bây giờ vô võng mà lại dùng thuốc, thời lại hóa ra võng. Vậy nên tật vô võng chớ nên nếm thử thuốc.
6. - Thượng Cửu, vô võng hành, hữu sảnh, vô du lị
Thượng Cửu ở cuối cùng quẻ Vô Võng là Vô võng chi cực. Tuy vẫn vô võng, nhưng đã cùng cực thời cũng chẳng hành động gì được nữa, ư lúc đó chỉ nên an lặng chờ thời, như nghĩa câu Trung Dung: Cư dị dĩ sĩ mệnh.
Nghĩa là, cư xử bằng một cách thản dị, để mà chờ mệnh trời. Nếu không biết lẽ ấy, mà toan võng động, võng hành, tất nhiên có tai sảnh mà cũng chẳng làm gì lị.
Tượng viết: vô võng chi hành, cùng chi tai dã.
Vô võng đã cực rồi, mà còn muốn tấn hành, tất nhiên bị tai hại vì cùng cực vậy.
PHỤ CHÚ: Thầy Hồ Văn Phong có nói rằng: Người khéo học Dịch quý nhất là biết chữ Thì. Hễ mỗi một quẻ, tức là một thì đại, mà một hào ở trong quẻ, tức là những hạng người ở thì đại ấy.
Xem như quẻ Vô Võng, toàn quẻ là thuộc về thì đại Vô võng. Nhưng mỗi hào tất lại có thì đại riêng của mỗi hào; hào Sơ với hào Nhị vì sao mà vãng cát, mà lị hữu du vãng?
Là vì: Thì nên Động mà động, thời Động là vô võng. Tứ, sở dĩ khả trinh, Ngũ sở dĩ vật dược, là thì nên Tĩnh mà tĩnh, thời Tĩnh là vô võng. Đến như Thượng Cửu thời sao mà hành hữu sảnh, là vì: Thì nên Tĩnh mà động, thời động là võng. Tổng chi, ở một thì đại chung là vô võng, mà té ra lành dữ, mà hay dở khác nhau, thời lại vì thì đại riêng của từng người.
Hiểu được lẽ ấy, thời chúng ta ở đời phải có bộ óc xét Thì, lại phải có cặp mắt xem Thì, một phương diện thời soi thấu thì đại Trung của đời; một phương diện thời cân lường thì đại riêng của mình. Làm thế nào cho hai phương diện đó, điều hòa thích hợp được, ấy mới là thức thì, mà cũng là biết học Dịch.