Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 26 — Sơn Thiên Đại Súc 大畜

Trang in 296–304

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Càn hạ cũng là Nội Càn, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn.

Cấn là Sơn, Càn là Thiên. Nên tên quẻ đọc bằng Sơn Thiên Đại Súc.

TỰ QUÁI

Tự quái: hữu vô võng, nhiên hậu khả súc, cố thụ chi dĩ Đại súc.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Vô Võng tiếp lấy quẻ Đại Súc, là vì cớ sao?

Bởi vì, trong mình trước có Vô võng, vậy sau mới Súc tụ được. Vậy nên sau quẻ Vô Võng, tiếp lấy quẻ Đại Súc. Chữ Súc có ba nghĩa: Súc là nhóm chứa, như ta thường nói Súc tích; Súc là nuôi nấng, như ta thường nói Súc dưỡng; lại một nghĩa, Súc là ngăn đón. Theo về nghĩa trong Kinh, thời Súc là chứa, còn như nghĩa Quẻ, thời Súc là Súc tụ (theo về Tượng quẻ, Cấn ở trên, Càn ở dưới, tượng là trời lọt ở vào trong núi. Thế mà sức núi súc chứa được trời, mà cũng là Súc tụ trời vào trong núi, sức súc thiệt là lớn, nên tên quẻ đặt bằng Đại Súc.

SOÁN TỪ

Đại súc, lị trinh, bất gia thực, cát, lị thiệp đại xuyên.

Ý Soán từ nói rằng: Hễ người muốn ra làm việc đời, tất trước phải có uẩn súc ở trong mình, hoặc chứa trữ bằng món đạo đức hoặc chứa trữ bằng món học thức, hoặc chứa trữ bằng món tài trí, gồm đủ cả các món ấy, mới là uẩn súc được rất lớn. Tuy nhiên, chứa trữ vẫn phải nhiều, mà đã nhiều tất phải kén cho tinh, nhóm góp vẫn phải rộng, mà đã rộng lại tất phải có ước; nếu bất tinh, bất ước, thời những giống sở súc thành ra hỗn tạp xằng xiên, ấy là bất trinh, mà cũng là bất lị, nên nói rằng: Đại súc lị trinh, nghĩa là: Súc vẫn là lớn, mà cần phải cho được chính. Hễ những người súc đã lớn mà lại chính, tất nhiên đạo đức chất chứa ở bề trong, danh dự tràn khắp ở bề ngoài, tự nhiên xã hội phải hoan nghinh, quốc gia phải tín dụng; vị trời cho mình chung, lộc trời cho mình hưởng, thân mình là thân chung cả thiên hạ, có cần gì phải ăn cơm nhà nữa đâu. Nên nói rằng: Bất gia thực, ý nói rằng: Sở súc đã lớn thời nên làm việc thiên hạ, không nên ăn của nhà làm việc nhà, thế mới được cát.

Chẳng những lúc thiên hạ vô sự mà thôi, dầu có khi thiên hạ có việc gian hiểm, mình càng nên hi sinh tư súc của mình, gánh vác việc đời đỡ gian hiểm cho thiên hạ, đó lại là Lị thiệp đại xuyên nữa vậy.

Đem thân mà qua sông lớn, là việc gian hiểm. Có cứu được việc gian hiểm cho thiên hạ, mới là tài đại súc ở trong thiên hạ.

PHỤ CHÚ: Nghĩa ở Soán từ, thời chỉ lấy nghĩa Súc, là uẩn súc, cũng là trừ súc.

Đến các hào từ như sau, thời lại lấy nghĩa Súc, là súc chỉ. Dịch đạo tùy thì biến hóa, không bao giờ chấp nhất bằng trên mặt chữ.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Đại súc, cương kiện, đốc thực, huy quang, nhật tân kì đức; cương thượng nhi thượng hiền, năng chỉ kiện, đại chính dã, bất gia thực, cát, dưỡng hiền dã; lị thiệp đại xuyên, ứng hồ thiên dã.

Soán viết: đại súc, cương kiện, đốc thực, huy quang, nhật tân kì đức.

Soán từ thích nghĩa chữ Đại Súc, ý nghĩa rất bao hàm rộng lớn. Theo về đức Càn thời là cương kiện, theo về đức Cấn thời là đốc thực, huy quang. Uẩn súc những đức ấy, không bao giờ thôi, thời là Nhật tân Kì đức. Hễ tài sức của một người có tính chất cương kiện như đức Càn, ở trong chất chứa lấy thành thực, ở ngoài nảy nở làm văn chương, mà lại hằng ngày hằng ngày đức mình thường mới hoài hoài. Như thế, là uẩn súc rất lớn. Thủ tượng vào Càn, nên nói rằng: Cương kiện; thủ tượng vào Cấn, nên nói rằng: Đốc thực huy quang. Vì đã cương kiện, thời không bao giờ mỏi, vì huy quang mà gốc ở đốc thực thời không bao giờ mờ, nên nói rằng: Nhật tân Kì đức.

Cương thượng nhi thượng hiền, năng chỉ kiện, đại chính dã.

Hào Dương cương ở trên hết quẻ, có tượng là: Tôn thượng bậc hiền.

Lại theo về thể hai quẻ. Càn là kiện, Cấn là chỉ, nghĩa là hay chỉ ở nơi Kiện như thế duy có đại chính mới hay được.

Chữ Chỉ đây, nghĩa là chữ Chỉ ở Đại Học.

Bất gia thực, cát, dưỡng hiền dã.

(Chữ Dưỡng ở đây là thủ nghĩa bằng Súc dưỡng).

Hễ đã là người hiền, thời quốc gia xã hội nuôi cho, nên nói Bất gia thực cát.

Lị thiệp đại xuyên, ứng hồ, thiên dã.

Đây là lấy nghĩa bằng Quái thể. Lục Ngũ ở ngôi tôn, hạ ứng với Nhị giữa quẻ Càn, tượng là ứng với trời. Nên Soán truyện lại nói rằng: Sở dĩ hay Lị thiệp đại xuyên, là vì có tài có đức thuận ứng với trời, thời thiên hạ dầu có gian hiểm đến đâu, cũng cứu tế được cả.

PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc lời Soán truyện, nên để ý vào bốn chữ: Đốc, Thực, Huy, Quang. Người trong thiên hạ, nhiều hạng người thấy có huy quang mà không phải đốc thực, chứ không hạng người nào, đã đốc thực, mà không huy quang.

Huy quang mà không đốc thực, thời chỉ là lòe loẹt ở bề ngoài và trau chuốt những văn minh vỏ. Thế chẳng phải chân chính huy quang. Chính như câu Trung Dung: Tiểu nhân chi đạo, đích nhiên nhi nhật vong.

Nghĩa là, Đạo của tiểu nhân, tuy rực rỡ vậy, mà ngày càng lần lần mất. Đó là tệ bệnh vì huy quang mà không đốc thực; huy quang mà không đốc thực thời là huy quang giả. Đến như đốc thực mà nảy ra huy quang, thời đạo đức chứa ở trong, mà văn thái hiện ở ngoài, chính như câu ở sách Trung Dung: Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh, nghĩa là, chí thành ở trong, thời hình hiện ra ngoài; đã hình hiện thời rõ rệt; rõ rệt thời sáng láng.

Vậy nên, muốn thấy cho được chân chính huy quang, thời trước phải căn cứ ở nơi đốc thực.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: thiên tại sơn trung, đại súc, quân tử dĩ đa thức tiền ngôn vãng hành, dĩ súc kì đức.

Cấn trên, Càn dưới, tượng là trời lọt vào giữa núi. Quân tử xem Tượng ấy, thời lo cho uẩn súc trong mình được thiệt lớn. Muốn uẩn súc cho được thiệt lớn, cần thứ nhất, trước phải súc dưỡng đức mình cho thiệt lớn. Nhưng mà công phu súc đức, trước hết phải góp hết cả tri với hành.

(Tri, nghĩa là phải biết cho đến nơi; hành, nghĩa là phải làm cho đến nơi).

Trước có tri, mà sau mới hay hành, nên quân tử cần phải dụng công phu bằng học vấn, tìm tòi nghiên cứu những lời xưa nết cũ của Thánh hiền, mà biết cho nhiều, khiến cho chân tri mình được đầy đủ, tri đến bao nhiêu, thời hành đến bấy nhiêu, sẽ để nuôi chứa lấy đức mình. Đó là căn bản làm nên Đại Súc.

PHỤ CHÚ: Tên Soán truyện kiêm nói cả thể dụng của Đại Súc. Tượng truyện thời chuyên nói về công phu làm nên Đại Súc, nhưng sợ phần tri chẳng đầy đủ, thời phần hành chẳng được vững bền. Nên phải chú trọng bằng học vấn. Đó lại là ý nghĩa đặc biệt của Tượng truyện đó vậy.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Cửu, hữu lệ, lị dĩ

Nguyên toàn quẻ này, ba dương Nội Càn bị Ngoại Cấn chỉ súc lại, nên ba hào Nội quái, thảy thủ nghĩa bằng Súc chỉ.

Sơ Cửu đã dương cương lại kiện thể, nhưng vì ở dưới tất muốn thượng tấn, mà bị ở trên có Lục Tứ ngăn đón Sơ. Thế lực Sơ vẫn không địch lại Tứ. Nếu không biết chỉ, mà cố tiến liều, tất làm nguy cho Sơ. Nên tính một cách an toàn cho Sơ, thời chỉ nên thôi mà đừng tiến.

PHỤ CHÚ: Theo như quẻ khác, thời Tứ với Sơ là chính ứng, đáng viện trợ cho nhau, nhưng ở quẻ Đại Súc thời trái thế. Hễ ứng với nhau, thời là chỉ súc nhau, mà lại hào ở trên chỉ súc được hào ở dưới. Duy hào Thượng với hào Tam thảy là Dương hào, nên mới lấy nghĩa bằng bạn đồng chí, mà không lấy nghĩa bằng súc chỉ nhau. Chữ Chỉ đây, nghĩa là ngăn cản không cho lên, bị động mà chỉ, không phải tự động mà chỉ.

Tượng viết: hữu lệ, lị dĩ, bất phạm tai dã.

Tiến thời có nguy, nguy là tai đó. Nếu biết đình chỉ mà không tiến, thời không phạm đến tai. Nên nói rằng: Hữu lệ, lị dĩ.

Phạm, nghĩa là xông vào; không phạm vào đám tai, nghĩa là: Tri thối nhi thối.

2. - Cửu Nhị, dư thoát phúc.

Dư, nghĩa là cỗ xe; Phúc, là cốt bánh xe.

Cửu Nhị dương cương đắc trung, vẫn có tài tiến được, nhưng ở thì Đại Súc, bị Ngũ ở trên có thế lực Súc chỉ được Nhị. Nhị xử vào hoàn cảnh này, cũng in như hào Sơ, nhưng vì Nhị là đắc trung, nên tự mình biết nên chỉ mà chỉ, tượng như mình có xe toan ra đi, nhưng tự đạc thế lực mình chưa đi được, thoát quách cốt bánh xe mà không cần đi nữa. Cửu Nhị tự xử như thế, rất hợp với Thì nghĩa thì Đại Súc, chính như sách Lão Tử có câu rằng: Tri chỉ bất đãi, nghĩa là: Biết đường lối chỉ, thời khỏi mắc lấy nguy (Đãi, nghĩa là nguy).

Tượng viết: dư thoát phúc, trung vô vưu dã.

Cửu Nhị vẫn có tài dương cương tiến được, vì khuất ở thì thế mà đành chịu dư thoát phúc. Đó là Nhị có đức Trung, nên biết tùy Thì mà chỉ, không điều gì lầm lỗi. (Vưu, nghĩa là tội lỗi).

PHỤ CHÚ: Thông lệ Kinh Dịch, Dương thời cường, Âm nhược. Nhưng quẻ Đại Súc này, hào Sơ, hào Nhị thuộc về thể Càn trở lại chịu lút vào hào Ngũ, hào Tứ, té ra dương cương, mà bị âm nhu chỉ súc. Sơ thối mà không tiến, Nhị dừng mà không đi. Thế mới biết, thịnh suy trái nhau vì Thì, cường nhược khác nhau vì thế, chứ không phải Dương nhất định là cường, Âm nhất định là nhược.

Trung trí như Địch Nhân Kiệt, mà phải làm tôi với Vũ Hậu. Tài năng như Viên Thế Khải mà trót đời phải làm tôi với Na Lạp Thái Hậu.

Nhưng kết cuộc đánh đổ Vũ Thị rặt là đồ đảng Địch. Đánh đổ Mãn Thanh hơn nữa là tay chân họ Viên. Mới biết rằng: thì chưa nên tiến mà tiến, dầu anh hùng đến thế nào, cũng khó chống thì được. Đó chính là thì nghĩa Đại Súc, mà cũng là lệ biến hóa ở trong Dịch học.

3. - Cửu Tam, lương mã trục, lị gian trinh, nhật nhàn dư vệ, lị hữu du vãng.

Theo lệ quẻ Đại Súc, hào trên Súc chỉ được hào dưới. Duy Cửu Tam với Thượng Cửu thời trái hẳn thế. Cửu Tam với Thượng Cửu là dương cương đồng đức với nhau.

Tam ở vào Kiện chi cực, Thượng ở vào Súc chi cực. Cực thời phải thông, nên hai hào đồng chí với nhau, dắt nhau mà tiến, tinh thần hăng hái, chí khí đua lên, tượng như một cặp ngựa hay, chạy đua, vừa lanh vừa rập. Nhưng vì hai dương đồng tiến, sợ có khi ỷ tài nhuệ tiến, mà quên sự phòng bị, thời chưa chắc tấn đã vạn toàn. Nên Thánh nhân lại răn cho rằng: Lị gian trinh nghĩa là: Nên biết việc đời khó khăn, đường đời trắc trở, phải tìm một lối đường cho trung chính, và lại ngày ngày dự bị, luyện tập những các đồ đi đường, với các thức phòng vệ. (Dư: đồ đi đường. Vệ: đồ để hộ thân).

Khi tiến hành mà đã đủ tài liệu với kế hoạch như thế, thời đi đâu chắc cũng lị tiện.

PHỤ CHÚ: Quẻ Đại Súc này là thuộc về thì đại âm súc dương, duy hào Tam với hào Thượng là Dương hào cả đôi, nên không súc nhau, mà lại đồng loại tương trợ. Đó tuy trái với thì đại chung quẻ Đại Súc, mà lại đúng với thì đại riêng ở trong quẻ Đại Súc, nên hào từ hai hào thảy được lị hanh.

Tượng viết: lị hữu du vãng, thượng hợp chí dã.

Cửu Tam sở dĩ lị hữu du vãng là vì ở trên có Thượng Cửu hợp chí với mình, tuy thế lộ gian nan mặc dầu, nhưng có người chí đồng đạo hợp, dắt nhau mà lên, tất cũng được thản thuận.

4. - Lục Tứ, đồng ngưu chi cốc, nguyên cát.

Theo như vị các hào ở quẻ Đại Súc, thì Tứ này vẫn súc chỉ được Sơ. Nhưng bản thân Tứ là âm nhu, mà súc chỉ hào Dương cương, không phải việc dung dị. Song may thay! Sơ ở về đầu hết quẻ, vả lại, dương tính hãy còn ấu trĩ, đương lúc còn ấu trĩ, mà Lục Tứ đã tìm phương súc chỉ ngay, thời sức đề phòng hạn chế, không đến nỗi tốn công, tượng như con trâu mới mớm sừng, mà đã gác gông vào (Đồng ngưu, là trâu vừa mọc sừng. Cốc, cái gông chằng lấy sừng).

Như thế thời tốt lành hung.

PHỤ CHÚ: Hào từ này tuy chuyên nói Tứ với Sơ, nhưng lấy ý Thánh nhân mà suy ra, thời hễ làm vua dạy dân, làm thầy dạy trò, làm cha dạy con, làm chồng dạy vợ, cho đến làm bạn muốn trung cáo với nhau, thảy nên học ý nghĩa hào này.

Muốn ngăn cấm điều ác, muốn bế tắc điều tà, tất phải gấp lo ở lúc mới manh nha, mà cẩn thận một cách phòng vi đậu tiệm. Tà ác chưa kịp bùng, mà giáo hóa còn dễ tiệm ma tẩm nhuận từ đầu sắp đi, thời ác nhân cũng có thể hóa làm thiện nhân. Nếu chờ khi tà ác đã phát hiện, măng đã thành tre, mà lúc đó mới lo cấm chỉ, thời tuy có Thánh nhân dạy nó, cũng khó khiến cho nó cách tâm biến chất được. Câu Đồng ngưu chi cốc, chính là nghĩa ấy. Tục ngữ có câu: "Dạy con dạy thuở đương thơ, dạy vợ dạy thuở mới đưa vợ về", ý nghĩa tuy chưa hoàn toàn, cũng là ý trâu non mang gông vào sừng vậy.

Tượng viết: Lục Tứ, nguyên cát, hữu hỉ dã.

Lẽ trong thiên hạ, ác đã thịnh rồi, mới tìm phương cấm chỉ, thời công lao quá nhọc, mà hiệu quả chẳng bao lăm. Duy cấm chỉ ở lúc mới manh nha, thời người dạy không phải quá lao, mà người bị hóa cũng có thể sự bán nhi công bội. Lục Tứ súc Sơ cũng được như thế. Nên nói rằng: Nguyên cát hữu hỉ.

PHỤ CHÚ: Đồng ngưu chí cốc, chỉ nói bằng cách thí dụ, ngưu còn đồng, thời sừng chưa mọc ra, cốc để vào đâu?

Nếu bảo là sự thực thời ra vô lí, nhưng ý Thánh nhân cốt bảo cho ta cấm điều ác ư khi chưa phát lộ, tượng như trâu chưa có sừng, mà dự bị cốc cho sẵn. Sách Học Kí có câu: Cấm ư vị phát chi vị dự chính là nghĩa hào này. Học giả chớ nên câu nệ ở mặt chữ.

5. - Lục Ngũ, phần thỉ chi nha, cát.

Hào từ này theo giữa mặt chữ thời chí thiển, mà theo ý nghĩa thời chí thâm.

Thỉ: heo; phần thỉ: heo thiến; Nha: nanh. Thỉ, thí dụ bằng người cương táo; Nha, thí dụ bằng sức làm ác; Phần, thí dụ bằng cơ cảnh của người trì ác. Hễ người ác trong thiên hạ, nó vẫn có sức cương cường, tượng như heo có sức nanh sắc; tiểu nhân vì có sức cương cường, mới nảy ra thủ đoạn làm ác. Nếu ta chỉ theo thủ đoạn nó mà trừng trị, nhưng sức cương cường nó vẫn y nhiên, thời nó hết thủ đoạn này, nó lại nảy ra thủ đoạn khác, biết bao giờ trì cho nó xong. Tượng như heo hay cắn người, là nhờ sức nanh sắc. Nếu ta phòng bị nó, mà bẻ nanh nó được rồi, nhưng tính cương táo của nó vẫn y nhiên, còn khiến cho nó trầm phục. Thánh nhân vì thế nên dùng cấm chỉ ác nhân ở trong thiên hạ không cần trì ở nơi thủ đoạn của nó, mà cốt trì ở nơi nguyên động lực của nó, lựa cho được cơ hội, nắm cho được mấu chốt, khiến cho nó mất sức cương cường, thời dầu nó có thủ đoạn nữa, mà cũng vô sở thi. Tượng như trì heo không cần trì ở nơi nanh, mà cốt trì ở nơi thế của nó. Nó sở dĩ cương táo là vì nó có cái thế, đã cắt được cái thế của nó rồi, thời dầu có nanh cũng không hay cắn nữa. (Thế: cái dái của giống vật).

Trừ người ác mà dùng bằng một cách lén cơ hội, ngự heo mạnh mà dùng bằng một cách thiến dái, thực sự tuy khác nhau xa, mà diệu dụng vẫn in như nhau, chỉ là có cơ quyền, có thì hội, tìm cho được cội gốc, mà cắt cho hết rễ, thời công phu khỏe, mà hiệu quả lớn. Nên hào từ nói rằng: Phần thỉ chi nha.

Lục Ngũ súc chỉ được Cửu Nhị cũng như thế.

Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã.

Tòng lai, những việc trì ác, thường chỉ dùng uy hình, lấy cách chết dọa dân, mà dân không sợ chết, ông Lão Tử có câu: Dân bất úy tử, nại hà dĩ tử cụ chi, nghĩa là, dân vẫn không sợ chết, mà hay gì cứ đem cách chết dọa dân.

Trì ác mà chỉ như thế, thời càng trì càng vô công. Duy như Lục Ngũ biết rình cơ hội, mà trì cho đến căn bản, thời người trên không mệt, người dưới không đau, mà tự nhiên phong di tục cách, chính là hạnh phúc cho thiên hạ vậy.

6. - Thượng Cửu, hà thiên chi cù hanh.

Hào này cũng lấy nghĩa bằng toàn quẻ, thì đại thuộc về Đại Súc, súc từ hào Sơ súc lên, súc đến Thượng Cửu là súc chi cực, súc đã cực rồi, tức nhiên phải tán, tán cho đến cực kì rộng, thời rất hanh thông, nên hào từ nói rằng Hà thiên chi cù hanh.

(Cù: đường; thiên cù: đường trời). Ở giữa chốn hư không bát ngát, mây bay chim liệng, cực kì tự do, nên nói rằng: Thiên cù hanh.

Chữ Hà, là lời than tán, cũng là lời mừng, ý như nói rằng: Chà chà! Sao mà đường trời thông thái đến thế rư!

Hào này là đạo súc chi biến. Súc nguyên nghĩa là chỉ, chỉ chi cực tất nhiên lưu thông; lưu thông đến vô cùng, tất nhiên thiên cù hanh.

Tượng viết: hà thiên chi cù, đạo đại hành dã.

Sao lại nói bằng Thiên chi cù, là mặt trước không ai đón ngăn, mặt sau không ai xô đẩy, tứ bề thông suốt, đường lối đi rất rộng lớn đó vậy.

PHỤ CHÚ: Toàn sáu hào quẻ Đại Súc, chiếu ứng với nhau, là một lệ đặc biệt ở trong Kinh Dịch. Ba hào Cấn Thượng là người có thế lực, mà súc chỉ được người; ba hào Càn hạ là người thế lực non, mà bị người súc chỉ.

Hào Sơ bị hào Tứ súc, nên Sơ nói lị dĩ, mà Tứ nói đồng ngưu chi cốc; hào Nhị bị hào Ngũ súc, nên hào Nhị nói dư thoát phút; mà hào Ngũ nói phần thỉ chi nha.

Lị dĩ, thoát phúc, là bị súc mà chịu thối bộ. Cốc ngưu phần thỉ, là súc người mà được thành công. Bốn hào ấy là ở trong thì đại còn Súc.

Duy đến hào Tam với hào Thượng thời hợp chí đồng tiến đã đành, mà lại gặp thì vừa nhịp, súc cực tất thông, nên "lương mã trục" ở hào Tam; "thiên cù hanh" ở hào Thượng, cặp đôi lương mã, mà dong ruổi ở đường trời.

Súc đạo đến đây, thời bao nhiêu những khí uất tích ở ngày xưa, đến bây giờ tứ thông bát đạt hết cả. Nên Tượng truyện kết thúc lấy một câu: Đạo đại hành dã, ngó lại câu: Lị thiệp đại xuyên ở trên Soán từ thời biết rằng: vượt qua sông lớn tất bước lên đường trời đó vậy, ý nghĩa thủ vị chiếu ứng nhau như thế.