Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 34 — Lôi Thiên Đại Tráng 大壯
Trang in 372–378
Quẻ này là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng. Càn hạ cũng là Nội Càn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Càn thiên. Nên tên quẻ đọc bằng Lôi Thiên Đại Tráng.
TỰ QUÁI
Tự quái: Độn giả thối dã, vật bất khả dĩ chung Độn, cố thụ chi dĩ Đại tráng.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Độn. Độn, nghĩa là lui. Vật lí không giống gì là cứ lui hoài, hết thì vận lui thời tất lên, lên tất lớn mạnh.
Vậy nên sau quẻ Độn, tiếp lấy quẻ Đại Tráng.
Theo thông lệ ở trong Dịch, tiểu là Âm, đại là Dương, quẻ này Dương sinh đã đến bốn nét, Âm tiêu chỉ còn hai nét. Thế là Dương tráng thịnh lắm rồi, nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng. Đại Tráng, nghĩa là Dương đã tráng thịnh.
SOÁN TỪ
Đại tráng, lị trinh.
Soán từ ở đây chỉ nói tên quẻ, mà kiêm cả nghĩa quẻ, Đại Tráng thời dương đã thịnh rồi, quân tử tiến mạnh, thời tiểu nhân phải lui, cát hanh không cần phải nói nữa, chỉ e cho bạn quân tử, ỷ mình gặp hồi thịnh, mà kiêu căng đắc chí, lỡ có khi chạy vào đường bất chính chăng. Thánh nhân mừng cho Đại Tráng mà lại răn bằng lị trinh, nên nói rằng: Đại tráng lị trinh, nghĩa là: Đại tuy tráng rồi, nhưng cốt phải bền giữ đạo chính.
PHỤ CHÚ: Cổ nhân có câu: Đắc ý thường ti thất ý thì, nghĩa là: Hồi đã đắc ý, càng nên phải nghĩ đến khi thất ý.
Tòng lai, tiểu nhân sở dĩ hãm hại quân tử, thường rình ngó ở lúc quân tử đắc chí, mà vạch lá tìm ra sâu, ngậm cát phun vào mặt, nên quân tử càng phải khủng cụ tu tỉnh lắm. Quái từ chỉ có bốn chữ: Đại tráng lị trinh, mà ý nghĩa thiệt đủ. Trinh, nguyên là tạo nhân được Đại, Đại là kết quả của Trinh. Đại mà lại hay trinh, thời mới bảo tồn được tráng. Đó là ý Thánh nhân phù quân tử vậy.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: đại tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cố tráng. Đại tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi Thiên địa chi tình, khả kiến hĩ.
Soán viết: đại tráng, đại giả tráng dã, cương dĩ động, cố tráng.
Theo về thể quẻ, Dương hai phần, Âm một phần, Dương tiến vào ở trong, Âm lui ra ở ngoài, thế là phần Dương được tráng thịnh, nên tên quẻ đặt bằng Đại Tráng.
Vả theo như Đức quẻ, thời Càn cương ở trong, chấn động ở ngoài, thế là lấy đức dương cương mà động. Vậy nên tráng thịnh.
Đại tráng, lị trinh, đại giả chính dã, chính đại nhi Thiên địa chi tình, khả kiến hĩ.
Quái từ nói rằng: Đại tráng lị trinh, nghĩa là, sở dĩ đại được như thế, là vì có chính vậy.
Nói trái lại, nếu không chính thời không đại, vì có chính thời mới đại, đã chính thời lại đại thêm, chỉ xem ở nơi chính đại, mà suy cho đến thiệt rộng, thời chân tình của Thiên địa, cũng có thể thấy được rồi.
PHỤ CHÚ: Quẻ Phục nhất Dương sinh, thời Soán truyện nói: "Kiến thiên địa chi tâm", quẻ Đại Tráng tứ dương trưởng, thời Soán truyện nói: "Kiến thiên địa chi tình".
Chữ Tâm với chữ Tình, sở dĩ khác nhau là vì cớ sao? Tâm chỉ là ý tứ ngậm chứa ở bề trong. Tình thời có manh múi tỏ rõ ra ở bề ngoài. Tâm, Tình nguyên chỉ một gốc, mà thể dụng thời có khác nhau. Nguyên lai, tấm lòng của trời đất, chỉ cốt ở sinh vật. Nhưng khi sinh cơ còn ẩn nấp, thời không thể thấy được Thiên địa chi tâm. Đến quẻ Phục mà nhất Dương sơ sinh, thời sinh cơ đã manh động, nên thấy được Thiên địa chi tâm. Đến quẻ Đại Tráng dương trưởng đã đến bốn nét, thời lòng sinh vật của Thiên địa, đã có tác dụng tỏ rõ ra bề ngoài, thời mới thấy được Thiên địa chi tình.
Hai chữ Đại nghĩa có khác nhau. Chữ "Đại giả" ở trên, đại chuyên chỉ bằng Tứ dương; chữ "Đại giả" ở dưới, thời đại là thuyết lí, chỉ nghĩa là lớn.
Chính mà to lớn, ấy là tình của Thiên địa. Thầy Mạnh bàn dưỡng khí mà nói rằng: Cái làm ra khí đó rất lớn rất mạnh, lấy lí thẳng nuôi nó mà không tổn hại đến nó.
Mấy câu ấy, chính là học Soán truyện Đại Tráng vậy.
Chữ "Cương", chữ "Đại", chữ "Trực" tức là chữ Chính đại ở quẻ này.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: lôi tại thiên thượng, đại tráng, quân tử dĩ phi lễ phất lí.
Quẻ này Càn ở dưới, Chấn ở trên, tượng là sấm vang động trên trời, tiếng kêu được rất lớn, uy vang được rất xa.
Như thế, thời Đại mà lại Tráng.
Quân tử xem tượng ấy, bắt chước Đại Tráng, mà làm cách đại tráng của mình, phấn chấn tinh thần của mình, để đánh đổ giặc tư dục, tự cường bất tức, cố làm cho đến Thánh hiền.
Hễ việc gì không hợp với thiên lí, thời quyết không làm ngay.
Phật Kinh có nói rằng: nhất thiết giặc ở ngoài, đều có thể đánh đổ được, duy có sáu giặc ở trong mình, khó đánh mà thôi; nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung của thầy Tử Lộ hỏi việc cường, đức Khổng Tử dạy cho rằng: Quân tử hoà với chúng mà không trôi, khó đánh mà thôi, nếu đánh được giặc đó, mới là đại tráng của quân tử. Sách Trung Dung, thầy Tử Lộ hỏi việc cường, đức nổi theo chúng, đứng bằng cách trung chính mà không nương dựa vào phía nào. Mạnh vậy thay! rất mạnh, thảy là như nghĩa Tượng từ đây.
Xưa nay những cách phùng mang trợn mắt, xông súng đạn, nhảy hầm than, tục thường vẫn khen làm tráng, những võ phu dũng sĩ thường hay làm được, đến như cấm được tư tình biến hoá được khí chất, thời tất phải có nghĩa lí chí dũng được như quân tử, mới làm nên được, nên nói rằng: Quân tử dĩ phi lễ phất lí (Lễ, tức là lẽ trời; Lí, nghĩa là làm).
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, tráng vu chỉ, chinh hung, hữu phu.
Sơ Cửu dương cương Càn thể, mà xử vào địa vị dưới hết quẻ, lấy tượng bằng thân người, thời tượng là ngón chân ở dưới, mà ham tiến động.
Sơ Cửu vị dương cương mà lại thể kiện. Xử Sơ chính là người ở địa vị thấp, mà hấp tấp láu táu quá hăng bằng một cách nhuệ tiến. Thế là Tráng vu chỉ. Chỉ, nghĩa là ngón chân, hăng lên mà chỉ dùng bằng ngón chân thế nào đi cũng vấp ngã, nên nói rằng: Chinh hung hữu phu, nghĩa là đi lên thời tất nhiên xấu. Nghĩa chữ "Hữu Phu" ở đây, khác nghĩa chữ "Hữu Phu" ở mọi nơi.
Phu, nghĩa là chắc chắn; Hung hữu phu, xấu chắc chắn.
Tượng viết: tráng vu chỉ, kì phu cùng dã.
Ở vào thì Đại Tràng, thời tráng vẫn có lẽ hay, nhưng Sơ là địa vị tối hạ, mà toan dùng cách hăng mạnh ra với đời, hạng người ấy tất nhiên cùng khốn vậy.
2. - Cửu Nhị, trinh cát.
Cửu Nhị bản chất vẫn dương cương, mà ở vào âm nhu, lại ở được vị trung, thế là cương nhu vừa đắc trung, tráng mà không quá chừng tráng, ấy là được trinh chính mà có tốt lành vậy.
PHỤ CHÚ: Theo thường lệ ở quẻ khác thời Dương cư Âm vị mà bất chính.
Nhưng hào này Cửu Nhị là đắc trung rồi, đã đắc trung thời chẳng bao giờ bất chính.
Đó lại là biến lệ ở trong Dịch, nên hào từ dùng chữ "Trinh Cát".
Tượng viết: Cửu Nhị trinh cát, dĩ trung dã.
Cửu Nhị mà được trinh cát, là vì được đạo trung vậy.
3. - Cửu Tam, tiểu nhân dụng tráng, quân tử dụng võng, trinh lệ, đê dương xúc phiên, luy kì giốc.
Cửu đã dương cương, Tam cũng dương cương, trùng dương mà xử vào thì Đại Tráng, lại ở cuối cùng Càn thể, là người tráng chi cực. Nếu tiểu nhân mà như thế, thời dùng cách ấy mà tỏ ra một cách hung mạnh.
Nếu ở về người quân tử, thời dùng cách ấy mà tỏ rõ ra một cách gan liều. Chữ Tráng ở đây nghĩa là hăng mạnh, chữ Võng nguyên nghĩa như chữ Vô, đây thời lại nghĩa là gan liều. Xem nhất thiết việc, như hình không mà không kiêng sợ gì, thời gọi bằng Vọng.
Tiểu nhân quân tử là địa vị khác nhau, dụng tráng dụng võng, là thủ đoạn khác, nhưng tổng chi cũng là tráng bướng cả.
Tráng mà tráng bướng thời dầu có chính nữa cũng phải nguy. Tượng như, con dê đực ỷ mình có sừng, hễ thấy giậu tường thời húc ngay, giậu tường thời không đổ, mà sừng chắc phải gãy. (Đê dương, nghĩa là con dê đực; Phiên, nghĩa là tượng giậu; Xúc, nghĩa là húc chận; Giốc, nghĩa là sừng; Luy, nghĩa là gãy). Đê dương xúc phiên, luy kì giốc, là thí dụ bằng cách "Thái cương tắc chiết".
Tượng viết: tiểu nhân dụng tráng, quân tử võng dã.
Tiểu nhân mà như Cửu Tam, thời là vì tráng mà sát thân, quân tử mà như Cửu Tam, thời là vì võng mà mang hoạ.
Dụng tráng in như câu: Bạo hổ bằng hà, tử nhi hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn.
PHỤ CHÚ: Hễ mỗi hào ở trong Dịch, bao bọc hết mấy hạng người, nên Thánh nhân thường đặt ra hai nghĩa: Lục Ngũ quẻ Hằng, phụ nhân cát, phu tử hung. Cửu Tam quẻ Bỉ, tiểu nhân cát, đại nhân bỉ hanh.
Cửu Tứ quẻ Độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ như những loài ấy, v.v... Cửu Tam này cũng thế. Người vận dụng được hào không phải hào vận dụng được người. Xin học giả chớ nệ văn mà không biết lí.
4. - Cửu Tứ, trinh cát, hối vong, phiên quyết bất luy, tráng vu đại dư chi phúc.
Cửu Tứ qua khỏi Càn mà vào Chấn thể, dương trưởng đã đến lúc cuối cùng, là tráng thịnh đã đạt ư cực điểm, vả lại hào Tứ này ở trên hết quần dương, chính là người lãnh tụ trong đám quân tử. Thánh nhân sợ vì quá đầy mà nghiêng, không khéo lại lầm về đường bất chính, nên có lời răn rằng: Trinh cát, hối vong, nghĩa là: Giữ được chính, thời lành, mà khỏi được những việc phải ăn năn.
Lại theo về Thể quẻ: Bước lên trên Tứ là hào Ngũ hào Thượng, rặt là hào Âm, âm đã đến lúc suy, đánh đổ nó có thể dễ, tượng như tường ở trước mặt, bây giờ đã đổ trống, không còn khốn nạn gì, nên nói rằng: Phiên quyết bất luy. Chữ Phiên, chữ Luy tiếp Cửu Tam mà nói chuyện. Tam còn có Phiên, đến Tứ thời Phiên Quyết, không phải sợ lưu độc. Cửu Tứ đã gặp được cơ hội như thế, suất lệnh cả ba dương ào ào mà lên, nước bước đường đi chắc rất thuận li, tượng như cưỡi cỗ xe lớn, mà cốt bánh xe lại được vững vàng. Thí dụ bằng Tượng ấy, là mừng cho quân tử đã đến ngày tiến hành thuận li vậy.
(Đại dư, nghĩa là xe cỡ lớn; Phúc, là cốt bánh xe). Xử vào thì Đại Tráng mà lại có tài liệu như cỗ xe lớn, cốt cứng thời xe mạnh thời tiến hành có khó gì đâu.
Tượng viết: phiên quyết bất quyết bất luy, thượng vãng dã.
Cửu Tam sở dĩ không tiến được là vì trước mặt hãy còn giậu tường ngăn trở. Bây giờ đã phiên quyết bất luy rồi, thời tiến mãi không thôi, là sự thế tất nhiên. (Thượng vãng, nghĩa là tiến lên hoài).
5. - Lục ngũ, táng dương vu dị, vô hối.
Lục Ngũ ở địa vị chí tôn, mà lại vừa thì Đại Tráng, quần dương ở dưới, dương tiến mạnh là thường. Ngũ ở trên họ mà bản chất Ngũ là âm nhu, thiệt không thể lấy thế lực mình áp phục được họ, chỉ duy có một cách, dùng ngón nhu thuận, lấy hoà dị vui vẻ đối đãi với họ. Ngũ đã không có lòng rầy rà với họ, thời quần dương kìa cũng không biết thả ngón cương cường vào chốn nào, tượng như có bầy dê mà mất hẳn bầy dê bằng một cách dung dị. Nếu thí dụ bằng Táng dương vu dị.
Táng dương, nghĩa là mất dê, dê hay đi bầy mà tính ham chậm. Dương là ví vào quần tự nhiên dương, lấy một cách chí nhu đối đãi với quần dương, mà quần dương tự nhiên mất thủ đoạn cương cường. Thế là mất dê bằng cách dễ dàng vậy. Như thế, chắc không việc gì phải ăn năn.
PHỤ CHÚ: Sách Lão Tử có câu: Lấy đạo chí nhu trong thiên hạ mà lùa đẩy được những món chí cương ở trong thiên hạ. Ông Quang Võ đời Hán có nói rằng: Ngô dĩ nhu đạo trì thiên hạ, cũng tương tự như hào từ này.
Tượng viết: táng dương vu dị; vị bất đáng dã.
Ở về thì Đại Tráng, mà cớ sao chỉ dùng bằng một cách nhu hoà. Bởi vì: Ngũ là âm nhu mà ở vào tôn vị, bản thân vẫn không tài dương cương, nếu không dùng cách nhu hoà thời làm sao mà ở được vị ấy.
6. - Thượng Lục, đê dương xúc phiên, bất năng thối, bất năng toại, vô du li, tắc cát.
Thượng Lục ở cuối cúng quẻ Đại Tráng, lại ở trên hết thể Chấn, thế là Tráng chi chung, động chi cực, nên láu táu chạy quàng, tượng như dê đực ỷ thế có sừng mà húc vào tường giậu, muốn lui thời sừng đã mắc vào tường không thể lui được nữa muốn lên thời sức không thể đẩy được tường, nên không thể lên được.
Lúc bây giờ tiến thối lưỡng nan, thế là bất năng thối, bất năng toại, còn có gì li nữa đâu. Bất năng thối, là vì táo động quá tay, bất năng toại, là vì bản chất quá nhu nhược, nên kết quả vô du li. Tuy nhiên, địa vị hào Thượng là Đại Tráng đã đến lúc cùng, hễ cùng thời biến, may chi Thượng biến được tính chất của mình, bỏ nết táo động, mà tự xử bằng một cách gian nan. Thế là chỉ tĩnh chế động thời có lẽ cát (Toại, cũng như nghĩa chữ Thành). Trong Luận Ngữ có chữ "Toại sự", tức là nghĩa chữ Toại ở đây.
Tượng viết: bất năng thối, bất năng toại, bất tường dã, gian tắc cát, cựu bất trường dã.
Muốn thối mà thối cũng không xong, muốn tiến mà tiến cũng không được là vì mình tự xử không được tường thẩm nên đến nỗi thế. Nhưng còn may, đến lúc đại tráng đã cùng rồi, nhân cùng mà biết biến đổi, biết gian nan tự thủ, thời tội lỗi cũng không bao nhiêu.
Vậy nên nói rằng: Gian tắc cát.
PHỤ CHÚ: Đại Tráng là quẻ Dương thịnh Âm suy, theo thường lệ quẻ tốt, mà hào từ trong sáu hào, lại không có hào nào là thiệt tốt là bởi vì: Thì Đại Tráng tuy một vận hội rất tốt, nhưng hễ phúc thời thường nấp cơ hoạ, thịnh thời thường nấp cơ suy. Quái từ là chỉ nói về Thì, nên lời quẻ không thấy xấu. Hào từ lại nói riêng từng hạng người ở trong thì Đại Tráng, thấy phúc phải lo đến hoạ, thấy thịnh phải lo đến suy, tất phải dùng những lời răn đe ngăn ngừa, nên hào từ không thể nói tốt. Đó chính là lẽ tiêu, tức, dinh, hư, ở trong Dịch mà Thánh nhân phải dặn trước cho người ta, chính như nghĩa hào từ Cửu Tam quẻ Thái, muốn cho người chớ thấy Đại Tráng mà đắc ý.