Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 35 — Hỏa Địa Tấn 晉
Trang in 379–384
Quẻ này là quẻ Hoả Địa Tấn. Khôn hạ cũng là Nội Khôn, Li thượng cũng là Ngoại Li. Li hoả, Khôn địa. Nên tên quẻ đọc bằng Hoả Địa Tấn.
TỰ QUÁI
Tự quái: vật bất khả dĩ chung tráng, cố thụ chi dĩ Tấn, Tấn giả tiến dã.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Tráng tiếp lấy quẻ Tấn, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Đại Tráng, vật lí không lẽ đến tráng mà thôi. Hễ đã tráng thịnh, thời tất nhiên tiến lên, nên sau quẻ Đại Tráng, tiếp lấy quẻ Tấn. Tấn, nghĩa là tiến lên.
Theo về Tượng quẻ, Li ở trên Khôn, tượng là mặt trời đã mọc lên trên đất. Mặt trời lên khỏi đất, càng lên cao càng thêm sáng, tượng như thế là tấn mạnh lắm, nên tên quẻ đặt tên bằng Tấn.
SOÁN TỪ
Tấn, khang hầu, dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
Tên quẻ này là quẻ Tấn, có nghĩa là tấn thịnh. Theo Tượng quẻ, thời Li minh ở trên. Khôn thuận ở dưới. Thế là: Xử ở dời Tấn thịnh. Người trên thời minh, người dưới thời thuận, quân thần tương đắc, như ở trong nước có một vị Khang hầu là một bậc có tài giúp nước an dân, nên vị Quốc trưởng hết lòng tín nhậm, ân hậu lễ sùng, trên dưới đồng tâm với nhau, dắt người trong nước lên con đường tấn thịnh, nên nói rằng: Khang hầu dung tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
Khang, nghĩa là yên; Khang hầu, nghĩa là ông hầu có tài an được nước; Phồn thứ, nghĩa là đông nhiều; Tích, nghĩa là cho; Tích mã phồn thứ, là ban thưởng cho người vừa đông vừa nhiều, là ơn rất hậu đó vậy; Trú nhật, là thuộc về ban ngày; Trú nhật tam tiếp, là một ngày mà đến ba lần tiếp rước, là lễ đại rất trọng vọng đó vậy. Quái từ ở đây không nói những chữ: Hanh, Cát, Li là cớ sao? Vì trong chữ Tấn đã ngậm hết ý Hanh, cát, li rồi.
Thì đại đã vào lúc Tấn thịnh, còn phải nói Hanh, Cát, Li làm gì nữa. Chỉ nói hiền tài giúp nước, vua chúa trọng hiền thần, thời thấy được cái đạo nhân làm nên Tấn, không cần phải nói kết quả.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Tấn tiến dã. Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã.
Soán viết: Tấn tiến dã.
Đây là thích nghĩa tên quẻ. Tấn, nghĩa là tiến lên vậy.
Minh xuất địa thượng, thuận nhi lệ hồ đại minh, nhu tiến nhi thượng hành, thị dĩ khang hầu dung tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp dã.
Mặt trời mọc ra khỏi đất, là đức sáng soi dọi khắp thế giới, cảnh tượng rất vẻ vang. Người ở dưới có đức có thuận mà dựa vào bậc đại minh. (Đại minh, là một vị Quốc trưởng có đức thánh minh).
Kinh Thư nói rằng: Nguyên thủ minh tai là thế.
Trong quẻ có Lục Ngũ, nguyên hào giữa quẻ Càn biến làm hào nhu Tấn mà đi lên, ở vào địa vị Ngũ, chính là địa vị Quốc trưởng. Đủ các Tượng ấy thời là: có vị hầu yên nước yên dân, mà được vị Nguyên thủ hết lòng kính lễ vậy. Nên nói rằng: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: minh xuất địa thượng, Tấn; quân tử dĩ tự chiếu minh đức.
Chất sáng của mặt trời, tấn không bao giờ tắt, nhưng vì trái địa cầu che mất mặt trời, mà buổi đêm không thấy được tia sáng; đức sáng của lòng người vẫn không bao giờ tắt, nhưng vì vật dục che lấp, nên không thấy rõ được ánh sáng; Quân tử xem Tượng quẻ Tấn, mà biết được đức Minh vẫn sáng như mặt trời, duy phải ngăn cấm vật dục, khiến cho tự mình làm sáng suốt đức Minh, cũng in như Minh xuất địa thượng, thời đức Minh càng ngày càng tấn mãi.
PHỤ CHÚ: Tượng truyện ở trong Dịch, duy quẻ Càn quẻ Tấn có chữ Tự. Nghĩa là giữa bản thân làm lấy. Bắt chước Càn mà Tự cường bất túc, là công phu học của quân tử mà thuộc về phần trí tri, phần hành tất phải kiện được như Thiên, phần tri tất phải minh được như Nhật, hai việc đó tất tịnh tấn với nhau, thời năng sự của quân tử mới là viên mãn. Nhưng việc đó không phải ỷ lại vào người ngoài mà được đâu, nên Tượng truyện nói chữ Tự.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, Tấn như tồi như, trinh cát, võng phu, dũ, vô cựu.
Sơ Lục bản chất âm nhu, mà địa vị ở dưới hết quẻ Tấn. Kẻ ứng với Sơ là Tứ lại bất trung chính, mình đã hù hạ mà gặp bạn lại không ra gì, nên muốn tấn lên mà bị ngăn chẹt. Người mà gặp hoàn cảnh như thế, thời nên thế nào? Duy kiên cố giữ lấy đạo chính, thời kết quả cũng được tốt lành.
Tuy nhiên, chính, không chính là quyền tại mình; tin, không tin là quyền tại người.
Nên cũng có khi mình đã chính mà người chưa tin (Võng phu: có người không tin mình).
Nếu tiểu nhân mà gặp lúc đó, nóng nảy chạy vạy, để cầu người tin, hoặc đến nỗi đổi lòng biến tiết, tất nhiên có lỗi. Duy quân tử xử hoàn cảnh ấy, thời tin hay không tin thây kệ người, mình cứ khoan thai thong thả, ra sức tự tu thân, như thế thời không tội lỗi.
PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói: Ái nhân bất thân, phản kì nhân, trị nhân bất trị phản kì trí, nghĩa là: Ta yêu người, mà người không thân ta, thời ta trở lại trách đức Nhân của ta, ta trị người mà người không chịu trị thời ta trở lại trách đức Trí của ta.
Đức Khổng Tử có nói rằng: Nhân bất tri nhi bất uẩn, nghĩa là Võng phu dũ.
Tượng viết: tấn như tồi như, độc hành chính dã, dũ vô cựu, vị thụ mệnh dã.
Người ta ở đời, trong một thời gian dầu Tấn cũng chẳng lấy gì làm vui, dầu chưa Tấn cũng chẳng lấy gì làm buồn, duy một mình làm đạo chính mới là quân tử. Huống gì Sơ Lục ở vào vị dưới hết, mệnh lệnh quân thủ của triều đình mình chưa nhận chịu bao giờ, thời lại càng thung dung tự tại lắm.
2. - Lục Nhị, Tấn như sầu như, trinh cát, thụ tư giới phúc vu kì vương mẫu.
Lục Nhị có đức trung chính, đáng lẽ Tấn được. Nhưng vì ở trên không có người ứng viện với mình, chỉ mình tự tấn lấy, thời cũng có ý khó khăn, nên lúc tấn mã không khỏi lòng riêng rầu rĩ. Nghĩa là: muốn tấn mà không lấy gì làm thuận thích.
Tuy nhiên, Nhị sẵn có đức trung chính, chắc chẳng bao lâu, danh vị cũng phải đến mình, chỉ duy lo giữ lấy đạo chính thời được cát. Khi cơ hội tốt đến rồi, thời bạn đồng đức với Nhị là Lục Ngũ. Ngũ ở địa vị Nguyên thủ, mà có đức đại minh, tất cần đến người đồng đức là Nhị, mà đem vị lộc trao cho. Nhị đến lúc bây giờ, in như người cháu đích tôn, đội nhờ được phúc lớn ư bà tổ mình vậy. Giới, nghĩa là lớn, Vương mẫu, nghĩa là tổ mẫu, là người đẻ ra cha mình. Quẻ này thời chỉ vào hào Lục Ngũ.
Tượng viết: thụ tư giới phúc, dĩ trung chính dã.
Người ta làm điều phải, chẳng lo gì không được phúc, nên đã có đức trung chính như Lục Nhị này; tất nhiên có ngày thụ tư giới phúc. Tư, là đại danh từ, nghĩa là ấy, chịu được phúc lớn ấy, là vì có đức trung chính đó vậy.
3. - Lục Tam, chúng doãn, hối vong.
Hào Lục ở vị Tam, theo như lệ quẻ khác, là bất trung chính. Đã bất chính lại bất trung thời đáng lẽ là hữu hối. Duy ở thì Tấn, Tam âm ở dưới, sẵn đồng lòng muốn Tấn, mà Lục Tam lại ở trên hết thể Khôn thuận, Nhị âm ở dưới đều đồng chí với Tam, tin nhau dắt nhau mà lên, thuận tòng với một bậc đại minh, ấy là Chúng doãn.
Chúng, nghĩa là đại đa số nhân; Doãn, nghĩa là tín cẩn. Đại đa số nhân đã tín cẩn, thời có việc hối gì mà không tiêu một nửa đâu. Người đời xưa có nói rằng: Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi, nghĩa là: Mưu việc theo lòng chúng, thời hợp lòng trời. Tả truyện có câu rằng: Dữ chúng đồng dục giả tế, nghĩa là: Với quần chúng đồng một lòng muốn cả, thời việc tất nên. Tế, nghĩa là nên, cũng có nghĩa là chúng doãn, hối vong vậy.
Tượng viết: chúng doãn chi chí, thượng hành dã.
Chí ý của Lục Tam mà được chúng doãn, là vì ba Âm đồng một lòng với nhau thảy muốn tấn lên đó vậy.
4. - Cửu Tứ, tấn như, thạch thử, trinh lệ
Hào Cửu ở vị Tứ, địa vị vẫn đã không đúng, mà huống gì ở trên Tam, bầy âm ở dưới mình họ dắt nhau tịnh tấn, thanh thế đáng ghê, mà Tứ này bất chính bất trung, dám ngồi ngôi cao trên họ, đã không lòng thối nhượng, thời phải sợ tai họa vì mất ngôi, tham ăn mà lại sợ người, ở trong đời Tấn, mà tấn một cách như con chuột đồng.
Chuột đồng tính tham ăn mà hay sợ người. Tứ cũng in như nó. Nếu Tứ trung đồ biết cải quá tránh ngôi, thời đương còn được an ổn.
Nhưng Tứ có biết thế đâu, cứ giữ chặt nết hư của mình, chắc nguy tới nơi.
Chữ Trinh ở đây, chỉ có nghĩa Trinh là bền giữ, không phải nghĩa Trinh là chính.
Tượng viết: thạch thử trinh lệ, vị bất đáng dã.
Cửu Tứ vẫn là người bất chính, mà trộm ở vị cao, thiệt là đức bất xứng kì vị. Vị Tứ đã không đáng, thời nguy là phải rồi, nên hào từ nói rằng: Thạch thử trinh lệ.
5. - Lục Ngũ, hối vong, thất đắc vật tuất, vãng cát vô bất lị.
Lục Ngũ làm chủ cho quẻ Tấn, có đức đại minh, mà lại quần âm ở dưới, thảy thuận phụ với, ở thì Tấn mà lại nhiều người đồng đức với mình, làm việc gì chắc cũng phải nên, nghĩa là không việc gì phải ăn năn.
Tuy nhiên, Lục Ngũ là âm nhu, ở vào thì Tấn, cảnh ngộ quá chừng sung sướng, e có lòng tham đắc, mà hoạn thất.
Hễ thấy đạo lí đã đúng, cơ hội lại thuận, thời cứ thẳng tay làm ngay, thất bại rư? thành công rư? chớ quá lo gì. Thất, nghĩa là mất lợi; Đắc, nghĩa là được công. Thất đắc, vật tuất, có ý như ta thường nói, may rủi thây kệ, mà sách xưa cũng có chữ: Thành bại bất kế. Nếu đã có đức đại minh, mà lại có lòng định tĩnh như thế, thời tấn hành chắc được tốt, không việc gì là chẳng thuận lị.
Tượng viết: thất đắc vật tuất, vãng hữu khánh dã.
Có đức đại minh như Lục Ngũ, quần hạ tất thảy thuận tòng. Nếu lại hay quên hết tư tâm mà thất đắc vật tuất, thời tấn lên chẳng những đã hối vong, mà lại có hạnh phúc nữa kia.
PHỤ CHÚ: Chữ Tuất như nghĩa chữ Ưu, nhưng vật tuất thời có hai nghĩa: một nghĩa là bất tất ưu, Cửu Tam quẻ Thái, Cửu Ngũ quẻ Gia Nhân, Sơ Lục quẻ Tụy, thảy là thuộc về nghĩa ấy. Vật tuất, nghĩa là bất tất quá lo; lại một nghĩa nữa: bất đương ưu. Lục Ngũ quẻ Tấn này thuộc về nghĩa ấy. Vật tuất chỉ là không nên lo.
6. - Thượng Cửu, tấn kì giốc, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cựu, trinh lẫn.
Thượng Cửu ở trên quẻ bản chất đã dương cương, mà lại ở cuối cùng quẻ, chính là cương chi cực, mà cũng tấn chi cực. Cương cực e không khỏi mắc lỗi bằng hung mạnh, tấn cực e không khỏi mắc vạ bằng đổ bể, ở vào thì đại Tấn, mà quá cương nhuệ tấn như thế, có khác gì loài muông mạnh tấn mà chỉ tấn bằng sừng mà thôi đâu.
Nên thủ tượng bằng "Tấn kì giốc". Giốc là một giống cứng ở trên đầu. Hào Thượng Cửu ở trên hết quẻ, nên thủ tượng bằng giốc, cương cấp quá như hào Thượng, thời còn làm được việc gì lớn đâu, chỉ duy lo tự trì lấy phần riêng của mình mà thôi. Tỉ như: Học trò thời chỉ vừa dạy riêng con em của mình, làm quan thời chỉ vừa dạy bộ thuộc riêng của mình, mà dầu người có quyền trị nước thời cũng chỉ vừa lo trừng trị những ấp riêng của mình.
Như thế, thời dầu có nguy nữa nhưng kết quả cũng tốt lành mà không tội lỗi. Bởi vì, cách cương cực, tấn cực đem ra trì ngoại, thời vẫn không xong, nhưng đem vào trì nội thời lại rất đúng.
Tuy nhiên, ở về thì đại Tấn, chính là thì khả đại hữu vi, mà vì tài chất hào Thượng, té ra chỉ vừa làm việc nhỏ mọn mà thôi.
Như thế, thời tuy đắc chính cũng đáng xấu thẹn.
Tượng viết: duy dụng phạt ấp, đạo vị quang dã.
Cảnh tượng thì Tấn, chính như mặt trời đương lên, mà vì Thượng Cửu, thất ư quá cương, cương minh đến lúc cuối cùng, không khỏi soi dọi đến thiên hạ, chỉ dùng vừa phạt ấp mà thôi, tiếc cho đạo Tấn chưa lấy gì làm sáng lớn vậy.