Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 47 — Trạch Thủy Khốn 困
Trang in 495–506
Quẻ này là quẻ Trạch Thủy Khốn. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Khảm thủy. Nên tên quẻ đọc bằng Trạch Thủy Khốn.
TỰ QUÁI
Tự quái: Thăng nhi bất dĩ, tất Khốn, cố thụ chi dĩ Khốn.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Thăng tiếp lấy quẻ Khốn, là vì cớ sao?
Trên kia là quẻ Thăng. Thăng, nghĩa là lên, lên mãi không thôi, tất nhiên phải Khốn. Tỉ như: Thăng đã lên bậc cuối cùng mà còn cứ trèo lên, tất nhiên phải té mà chết. Vậy nên sau quẻ Thăng, tiếp lấy quẻ Khốn. Khốn cũng nghĩa là khốn khổ.
Theo về Thể quẻ, Đoài âm ở trên, Khảm dương ở dưới; Ngoại quái, Nhị dương ở dưới nhất Âm, Nội quái, nhất Dương sụp vào giữa Nhị âm, thảy là dương cương bị âm nhu che lấp. Thế là quân tử sụp vào tay tiểu nhân, thiệt là thế đạo đương lúc cùng khốn, nên tên quẻ đặt bằng Khốn.
SOÁN TỪ
Khốn, hanh; trinh, đại nhân, cát, vô cựu, hữu ngôn bất thân.
Ở về thì Khốn, theo như mắt thế tục, thấy Khốn thời chỉ là Khốn, có gì là thông thái đâu.
Nhưng theo về mắt Thánh hiền, thời Khốn lại là hanh, nên nói rằng: Khốn, hanh. Khốn hanh là có nghĩa: Một là, thân mình tuy khốn, nhưng thì cùng, mới thấy tiết nghĩa, cảnh nghịch mới thấy phẩm người, thân tuy khốn, mà đạo mình vẫn hanh thông, đó là một nghĩa. Lại còn một nghĩa: Bao nhiêu cảnh cùng khốn là hòn đá mài của tạo hóa mài luyện anh hùng, mà cũng là lò lửa nóng của thiên nhiên, để đúc nung chí sĩ, càng khốn tâm hành lự đến bao nhiêu, lại càng tăng ích sở bất năng đến bấy nhiêu, nhân giữa lúc thất bại, mà đúc nên cái khuôn mẫu thành công, chính là Khốn mà Hanh đó vậy.
Nhưng mà lẽ Khốn, Hanh đó, há phải ai nấy cũng thảy đâu, tiểu nhân đụng Khốn, thời biến tiết ngay, dung nhân đụng Khốn, thời càng trụy lạc, nên tất phải hạng người có lòng trinh chính, có tài đức đại nhân, mới đương được cảnh Khốn, chống được thì Khốn, mà làm được Khốn nhi Hanh, như thế thời Cát mà vô cựu.
Nên nói rằng: Trinh, đại nhân, cát vô cựu, nghĩa là, có đức Trinh, có tư cách đại nhân, mới hay đương thì Khốn mà cát, lại vô cựu. Trái lại, nếu hạng người bất trinh và tiểu nhân, tất nhiên hung vả hữu cựu.
Trên ấy nói cho rõ nghĩa Khốn Hanh, nhưng mà chỉ nghĩa đặc biệt về phần quân tử, đây lại dạy một cách cho hạng người phổ thông.
Hễ thế đạo đã đến thì Khốn, tất nhiên cường quyền lồng loạt, công lí tối tăm, dầu có nói phô biện bạch, cũng chỉ chịu oan ngậm khuất mà thôi.
Nghĩa là: Dầu có nói phô những lẽ chính trực cũng chẳng thân được, người ta ở Thì ấy chỉ nên kín lặng giữ miệng là hay; chữ "Thân" phản đối với chữ "Khuất" (Thân, nghĩa là ngay duỗi).
Công lí đã không ngay duỗi được, thời còn nói làm gì. Hữu ngôn: bất thân, là răn cho người ở thì Khốn, không nên đua nói.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Khốn, cương yểm dã; hiểm dĩ duyệt, Khốn nhi bất thất kì sở hanh, kì duy quân tử hồ; trinh, đại nhân cát, dĩ cương trung dã; hữu ngôn bất thân, thượng khẩu nãi cùng dã.
Soán viết: Khốn, cương, yểm dã.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng Khốn, bởi vì Khảm dương ở dưới, Đoài âm ở trên. Thế là quân tử dương cương, bị tiểu nhân che bịt.
Thì ấy chính là quân tử đạo Khốn, nên đặt tên quẻ bằng Khốn. Yểm, nghĩa là che sụp.
Hiểm dĩ duyệt, Khốn nhi bất thất kì sở hanh, kì duy quân tử hồ.
Đây là thích nghĩa chữ Khốn Hanh. Theo về Thể quẻ, hạ Khảm là hiểm, thượng Đoài là duyệt. Thế là ở trong hiểm mà vẫn cứ hòa duyệt. Theo ở hoàn cảnh thời vẫn là Khốn, nhưng mà ở trong tâm lí thời vẫn thản nhiên tự đắc, xem bằng một cách rất hanh thông. Thế là ở hanh thông không bao giờ mất. Được như thế, chắc chỉ bậc quân tử mà thôi.
PHỤ CHÚ: Quái từ nói rằng: Khốn hanh; đây Soán truyện lại nói rằng: Kì duy quân tử hồ. Thế thời hai chữ Khốn Hanh chẳng phải riêng về quân tử hay sao?
Thiệt có thế, người thường khốn ở cảnh, thời khốn đến cả tâm. Khốn ở chí thời khốn đến cả đạo; chỉ duy quân tử: cảnh tuy khốn mà tâm vẫn hanh, thì tuy khốn mà đạo vẫn hanh.
Tức như: Đức Khổng Tử tuyệt lương ở Trần Thái bảy ngày mà đánh đờn, đọc sách không ngớt tiếng. Vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lí chín năm mà cắm đầu diễn Dịch không ngớt bút, chẳng phải là Khốn mà Hanh hay sao?
Tuy nhiên, có địa vị như Văn Vương, có tài đức như Khổng Tử, mà gặp lấy cảnh tuyệt lương, bị tù, mới gọi bằng Khốn. Nhân vì có cảnh Khốn ấy, mới tỏ rõ ra Thánh nhân, mới gọi rằng: Khốn nhi hanh.
Nếu những hạng người địa vị tài học thiên vạn bất cập hai người ấy, thời Khốn là sự thường mà cũng không thế nào Hanh được.
Vậy nên Soán truyện nói rằng: Kì duy quân tử hồ. Câu nói ấy chẳng được bênh riêng gì quân tử, nhưng vẫn trông mong cho loài người ai nấy cũng làm quân tử.
Ở trong thì Khốn, chẳng ai là tuyệt đối không khốn, nhưng mà Khốn Hanh thời hiếm quá.
Trinh đại nhân cát, dĩ cương trung dã.
Thông thường, người ta xử vào thì Khốn, chẳng biến tâm dịch tiết, tất chán đời bỏ mình.
Như Dương Hùng, ủy thân với Vương Mãng Giả Nghị đau khóc mà đến nỗi chết, đó là vì cớ không đủ đức cương trung. Thiếu đức cương thời không gan chống nổi hoàn cảnh; thiếu đức Trung thời hay chạy cuồng vào lối quá khích. Chỉ duy một hạng người có đức Cương, lại có đạo trung mới được cát. Vậy nên, Khốn mà vẫn cứ trinh, Khốn mà vẫn cứ tỏ ra cách đại nhân, nên Quái từ nói rằng: Trinh đại nhân cát.
Chữ Đại nhân ở đây không phải đại nhân ở quẻ Càn mà chính là đại nhân ở quẻ Bỉ.
Lục Nhị quẻ Bỉ có câu rằng: Đại nhân bỉ hanh, tức là đại nhân cát ở quẻ Khốn.
Hữu ngôn bất thân, thượng khẩu nãi cùng dã.
Ở vào thì Khốn, chính là thì hữu cường quyền vô công lí dầu mình có biện bạch, cũng chẳng thế nào thân được lẽ phải, âu là câm miệng cho rồi, nếu cứ đua miệng chỉ là thêm khốn cùng.
Thượng khẩu, nghĩa là đua miệng. Hai chữ ấy rất nhiều nghĩa. Tỉ như: Múa miệng để lấy tiếng, xảo ngôn để cầu người thương, hoặc là bới móc tội người để mong mình khỏi tội, hoặc dùng hai lưỡi để mong lừa phỉnh người, thảy gọi bằng Thượng khẩu. Nhưng đến lúc cuối cùng chỉ thêm vào Khốn cùng mà thôi, nên nói rằng: Thượng khẩu nãi cùng dã.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: trạch vô thủy, Khốn; quân tử, dĩ trí mệnh toại chí.
Theo như Tượng quẻ, thời Trạch ở trên, Thủy ở dưới, nên thành ra tượng Khốn.
Chằm để dựng nước, bây giờ nước mót xuống dưới, mà chằm phải khô, nên Tượng quẻ là Khốn.
Quân tử xem ở Tượng ấy mà nghĩ ra được đạo lí ở thì Khốn. Đạo quân tử đã đến khốn cùng, muốn cứu dân mà dân không thể cứu đặng, muốn thương nước mà nước không thể thương xong, thời chỉ duy có một phương pháp: Sinh bình sở chí như thế nào? Sát thân thành nhân, xả sinh thủ nghĩa, là chí gốc của mình ở lúc sinh bình.
Bây giờ rủi đụng vào cảnh ngộ khốn cùng, thời chỉ duy bỏ liều cả sinh mạng của mình, để cho thỏa chí nguyện của mình. Như thế, là Trí mệnh toại chí.
Trong Luận Ngữ có câu: Kiến nguy thụ mệnh, nghĩa chữ Trí ở đây cũng như nghĩa chữ Thụ. Trao sinh mệnh của mình hiến cho quốc dân xã hội, ấy là Trí mệnh, chỉ cốt cho thành chí giữ đạo của mình, ấy là toại chí.
Trí, nghĩa là trao vứt; Toại, nghĩa là làm cho đến nơi; Mệnh, là quyền ở trời sắp đặt cho mình; Chí, là quyền sở hữu của mình, muốn sao được vậy.
Bỏ vứt mạng mình mà hoàn thành chí mình là một phương pháp rất hay cho quân tử ở thì Khốn, cho nên Luận Ngữ nói rằng: Kiến nguy thụ mệnh, nghĩa là thấy đến thì nguy, thời trao quách mệnh mình.
PHỤ CHÚ: Tượng truyện ở trong Dịch, chẳng qua mượn tượng hữu hình để tỏ rõ lí vô hình, nhưng có nhiều lúc ý vị.
Như tượng quẻ Khốn, quẻ Cách: Đoài trên, Khảm dưới mà nói rằng: Trạch vô thủy.
Bởi vì, thủy nên ở trên trạch, bây giờ trạch trồi lên trên thủy, là thủy lậu mà trạch phải khô, như thế, là chằm không nước, chẳng phải Khốn là gì. Đến như Đoài trên Ly dưới, là quẻ Cách, thời Tượng lại nói rằng: Trạch trung hữu hỏa. Bởi vì trong chằm chỉ nên đựng nước, mà bây giờ lại có lửa ở trong chằm, chẳng phải biến đổi lạ thường hay sao, nên gọi bằng Cách. Tổng chi, Khốn với Cách thảy thuộc về thì biến, như Khốn là lúc cùng, chưa kịp biến. Cách thời trải qua lúc biến mà làm cho đến thông. Xem vào ý nghĩa Tượng truyện, chằm mà khô hết nước thời là Khốn, giữa Chằm mà bỏ lửa vào thời là Cách; xem ở chữ "Hữu" với chữ "Vô" hình dung được Khốn, Cách rất rõ.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Lục, đồn Khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch.
Đồn, là bàn trôn, là giống để mà ngồi. Châu mộc, là ngùm cây trụi, cây không nhánh lá chỉ trồi gốc ra, là gọi bằng Châu mộc. Cốc, là hang. U, là tối. Địch, là trông thấy, cũng nghĩa là xáp mặt.
Ở vào thì Khốn, mà Sơ Lục là âm nhu, lại ở dưới quẻ, chính là ở vào đáy hạng Khốn.
Theo như Thể quẻ, thời Sơ lại là ở dưới hết khoản hiểm, phỏng như chính ứng của Sơ là hào Cửu Tứ. Mà giúp đỡ được Sơ, thời hãy còn khá. Nhưng khốn nạn thay! Tứ đã bất trung, bất chính, mà lại sụp vào dưới lưới âm nhu. Tứ ở Thì ấy, thử thân bất độ, độ hà thân. Tội nghiệp cho Sơ muốn ngồi yên chịu Khốn, thời không chốn ngồi; toan nhúc nhích để tìm người cứu mình, thời tiền đồ càng trông càng mờ mịt, tượng như bàn trôn mình bị khốn ở gộc rồi, mà lại sụp vào trong lỗ hang kín, lâu tới ba năm mà không thấy được người cứu mình.
Tượng viết: nhập vu u cốc, u bất minh dã.
Người ở vào thì Khốn, chắc ai cũng tất thảy Khốn, há riêng gì mình Sơ đâu, mà hào từ hào Sơ lại xấu đạt ư cực điểm, là vì cớ sao?
Tùng lai, người ta sở dĩ chống chọi được hoàn cảnh, chỉ cậy có óc thông minh, biết đường họa mà tránh, biết đường phúc mà tìm, biết người phải mà theo, biết người vơ mà cự, thời dầu có rủi đụng phải Khốn nữa, còn có thể rút chân ra được. Kìa Sơ Lục âm nhu hôn ám, bản thân vẫn đã bất minh, tượng như Châu mộc là chốn không đáng ngồi, mà anh đặt trôn ngồi; U cốc là chốn không nên xuống, mà anh đặt chân xuống, bất minh đến như thế, còn mong gì đến cơ tốt nữa đâu. Hào từ chỉ nói kết quả, mà Tượng truyện nói thêm ba chữ "U bất minh" là truy nguyên cho đến tạo nhân. Vì tạo nhân đã u bất minh, nên kết quả tất phải khốn đến tận kiếp.
2. - Cửu Nhị, Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai, lị dụng hưởng tự, chinh, hung, vô cựu.
Cửu Nhị dương cương đắc trung, vẫn là người tài đức kiêm bị, mà ở trên có Cửu Ngũ đồng đức tương ứng. Nếu ở vào thì đại khác, thời sung sướng biết chừng nào, nhưng vì ở vào thì Khốn, mà khốn một cách khác người thường, nhờ ơn vua lộc nước, ăn no uống say, mà lại có tất đỏ tới nơi, nhưng mà: trong thời tự vấn lương tâm mình, ngoài thời thấy thương sinh thảm trạng. Vì thì gian, vận ách, mà còn nhiều nỗi bực tức, trông đến mâm cỗ mà đau lòng, thấy đến cân đai mà rát ruột, những điều mắt tục lấy làm sướng ghê, mà lòng Cửu Nhị cho là khổ cực. Nên nói rằng: "Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai".
Tửu tự, là những đồ thịnh soạn mà Ngũ cho Nhị. Chu phất phương lai, là những tụi quan trường kéo đến với Nhị.
Chu phất, nghĩa là bít tất đỏ, là đồ phẩm phục các quan. Tửu tự, Chu phất, là những giống làm Khốn cho Nhị. Hai câu ấy hình dung tấm lòng cương trung của Nhị, đau đớn vì đạo mình còn ách, mà trông thấy những vật sung sướng xác ở trước mắt, không lấy gì mà đổi buồn làm vui được.
Tuy nhiên, ở về thì Khốn, có đức cương trung như Cửu Nhị, thời tuy ân trạch, chưa khắp đến nhân dân, nhưng tinh thành đã có lẽ thấu đến thượng đế. Vậy nên, hào từ lại mượn việc tế tự mà đặt ra lời thí dụ rằng: Có tâm sự tinh thành như Nhị, thời đem hưởng tế thần linh, chắc thần linh cũng chiếu giám cho, nên lại nói Lị dụng hưởng tự. Hưởng tự, nghĩa là tế tự để hưởng quỷ thần.
Duy còn một lẽ lại phải lo cho Nhị. Nhị đã được hưởng vật chất sung sướng, tất nhiên muốn động tác hữu vi, nhưng khốn nạn thay, thì đại này là chưa phải thì đại hữu vi kia mà, xin Nhị hãy ôm lòng tinh thành yên lặng mà chờ Thì, họa may khốn cực mà hanh chăng nỏ. Nếu Nhị quá chừng nóng sốt, mà vội vàng kiếm cách tấn hành, tất có tai họa. Nhưng mà dầu có tai họa cũng là theo thì nghĩa, đã ăn của đời phải làm việc đời, vẫn là vô cựu.
Tượng viết: Khốn vu tửu tự, trung hữu khánh dã.
Cửu Nhị vì có đức cương trung, mà ở vào thì Khốn, chưa thỏa được tấm lòng tế thế an bang, thấy được mặc tốt ăn ngon, cũng lấy làm đau đớn, tấm lòng Nhị như thế, dầu người chẳng ai biết, mà trời đất đã chứng cho, chắc thế nào cũng có phúc khánh đó vậy.
PHỤ CHÚ: Khốn vu tửu tự, chu phất phương lai, là hình dung khổ tâm của quân tử.
Tục ngữ có câu: "Khi vui non nước cũng vui, khi buồn sáo nhịp đờn đôi cũng buồn", chính là ý nghĩa như mấy câu ấy.
Lị dụng hưởng tự, trung hữu khánh dã, là đoán sẵn hạnh phúc về tương lai, lòng thành thấu đến trời nghe, bây giờ chưa phúc, phúc về ngày sau. Đó là an ủy cho Cửu Nhị. Câu: Chinh hung, vô cựu, lại là quá lo cho Cửu Nhị, bởi vì một người cương trung như Cửu Nhị, tất không nỡ lòng sung sướng mà cứ ngồi yên, nên hào từ lại phải căn vặn như thế.
3. - Lục Tam, Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, hung.
Tật lê, là bụi gai; Cung, là ở nhà.
Lục bản chất âm nhu, mà xử vào vị Tam, lại bất trung bất chính ở vào thì Khốn, mà địa vị Tam lại là Khảm hiểm chi cực, tấn lên đã bị Khốn mà không tấn được, thối xuống không chốn ngồi yên, nên nói rằng: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê. Thạch, là chỉ vào hào Tứ. Tam muốn tấn lên, mà bị sức Tứ áp bức, tượng như bị đá dằn mà không hề ngấc đầu lên được. Tật lê, là chỉ vào hào Nhị. Tam muốn thối xuống, mà bị thế lực Nhị quá mạnh, Tam ở trên Nhị, ngồi không thể an, tượng như đặt trôn ở trên gai.
Tiến thối đã cùng đường, muốn quay lại về nhà, thời lại đụng người chủ trong nhà mà mình thương yêu, cũng mất đâu chẳng thấy được. Cung, là chỉ vào địa vị Tam. Thê, là chỉ vào bản chất Lục.
Hào từ này, hệ từ thích kỹ lắm, tiện dịch vào đây. Hệ từ nói rằng: Quân tử làm việc, tuy vẫn không kể thành bại, nhưng tất phải kể theo đạo lí.
Nếu kể như theo đạo lí, vẫn không phải chuyện mình đáng Khốn, mà cố lăn vào chịu Khốn, thân mình Khốn, mà cố lăn xả vào chịu Khốn, thân mình Khốn đã đành, mà lại mang tiếng bất trí, bị chúng cười mình là vô năng.
Quân tử bảo thân, tất phải kén chọn chốn mình đáng dựa, nếu xem nơi tình thế hiện thì với đôi bên quan hệ, thấy được người kia, không phải người mà mình đáng dựa mà khinh đem thân dựa vào, tất có ngày núi gió đổ mà nguy đến thân.
Danh đã nhục, thân lại nguy, thì giờ chết đã tới sau lưng, còn mong gì được thấy mặt vợ nữa rư. Thế còn gì xấu hơn nữa.
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Khốn, Khốn cũng là sự thường, nhưng tất phải lựa lọc đạo lí, xem có phải chốn mình đáng Khốn hay không. Nay Tam là Âm, mà muốn theo với Tứ là Dương, nên bị Khốn với Tứ. Như thế là: Phi sở Khốn nhi khốn, nên hào từ nói rằng: Khốn vu thạch. Thạch sức nặng áp được mình, mà mình ghé đầu vào, nên đến nỗi danh nhục. Ở vào thì Khốn phải tìm chốn y cứ cũng là lẽ thường, nhưng tất phải trông nom thì thế, tri kỷ tri bỉ, xem có phải người mà mình đáng y cứ hay không? Bây giờ Tam là Âm mà cưỡi trên Cửu Nhị là Dương. Nhị đâu có chịu để cho Tam cưỡi rư? Nên hào từ nói rằng: Cứ vu tật lê. Tật lê, là giống gai đâm được mình, mà mình ghé lưng dựa vào, ấy là Phi sở cứ nhi cứ, tất đến nỗi thân nguy.
Xem Sử Tàu, như Thái Ung ở đời Hán, vì khóc thây Đổng Trác mà mang vạ sát thân. Dương Hùng vì tụng công đức Vương Mãng, mà mang vạ nhảy lầu tự tử, kết quả bị uổng một đời văn sĩ, làm bia cho miệng thế chê cười, rặt là Phi sở Khốn nhi Khốn, đến nỗi danh nhục.
Lại như: Sử nước ta, Nguyễn Chỉnh bỏ Lê, Trịnh mà về với Tây Sơn, cuối cùng Tây Sơn diệt Trịnh, thời Chỉnh cũng bị nghi, kết quả Chỉnh cũng bị chết với Tây Sơn.
Lại như: Lê Văn Chất, danh tướng của Tây Sơn, sau phản Tây Sơn theo vua Gia Long, kết quả bị Nguyễn triều tru di tam tộc. Đó rặt là phi sở cứ nhi cứ, mà đến nỗi thân nguy.
Xem văn lí hào từ ngó như hình thiển cận, mà đến hệ từ giải thích lại đủ hết cơ nghi xử thế, với đạo lí tồn thân. Thánh nhân học Dịch như thế, há phải dòm ở mặt chữ mà thôi rư?
Tượng viết: cứ vu tật lê, thừa cương dã, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, bất tường dã.
Cửu Nhị là dương cương đắc trung, mà Lục Tam âm nhu lại cưỡi trên nó, có khác gì lót gai mà ngồi nữa rư, nên nói rằng: Cứ vu tật lê, kết quả đến nỗi vào nhà mình không thấy được vợ mình, là vì tạo nhân chẳng tốt, nên kết quả chẳng lành đó vậy (Tường, nghĩa là lành).
PHỤ CHÚ: Toàn văn hào từ Lục Tam chỉ một chữ Hung là sự thực, còn bốn câu trên thảy là lời thí dụ, chúng ta chỉ xem hệ từ thời giải thích rõ lắm.
4. - Cửu Tứ, lai từ từ, khốn vu kim xa, lẫn, hữu chung.
Cửu Tứ tuy bản chất dương cương, nhưng ở vào địa vị Tứ thời lại bất trung chính, vẫn biết tài đức anh như thế, lấy một mình xử vào cảnh Khốn e không xong. Nếu Tứ trông mong vào bạn chính ứng với mình là Sơ Lục gấp tới giúp đỡ mình.
Chẳng dè việc khó bằng lòng, hành vi cách trở, trung gian có Cửu Nhị thế lực quá lớn còn đè ép Sơ, Sơ đương bị Khốn ở dưới cùng, mà Tứ lại bị chết vì Cửu Nhị, nên nổi hai bên muốn thân mật với nhau, nhưng còn phải dùng dằng mà nước bước quá chậm trễ; thế là lai từ từ, mà bị Khốn với Kim xa. Từ từ, là có ý lẩm chẩm; Kim xa, là chỉ vào Cửu Nhị, Nhị ở dương cương, nên tỉ dụ bằng xe sắt.
Than ôi! Hai bên vẫn chính ứng với nhau, mà chỉ sợ vì một người có thế lực, đến nỗi phải chịu Khốn, mà lại phải từ từ, trông người lại ngẫm đến ta, thiệt đáng lấy làm xấu hổ, nên hào từ có chữ Lẫn. Tuy nhiên, Tứ đã dốc lòng ứng với Sơ, Sơ bản lai cũng là ứng với Tứ, hai bên vẫn lí tráng từ trực, kết quả tất liên hợp với nhau.
Lúc đầu tuy khó khăn, mà cuối cùng chắc thoát khỏi nạn, xưa nay tà bất thắng chính, là lẽ tất nhiên, há phải Nhị ngăn đón được Tứ, Sơ mãi rư? Nên hào từ lại nói rằng: Hữu chung.
Tượng viết: lai từ từ, chí tại hạ dã, tuy bất đáng vị, hữu dữ dã.
Cửu Tứ, tuy bị ngăn đón vì Cửu Nhị, nhưng chí Tứ cố ứng với Sơ ở dưới. Nhưng sở dĩ lai từ từ là vì vị Tứ cư nhu là bất đáng vị. Tuy nhiên, Tứ cố ý cầu Sơ, thời cuối cùng tất được Sơ là bạn giúp mình.
5. - Cửu Ngũ, tỉ nguyệt, khốn vu xích phất, nãi từ hữu duyệt, lị dụng tế tự.
Cửu Ngũ là Dương vị chí tôn ở trong thì Khốn, mà lại có đức cương trung, vẫn là một người giải Khốn, nhưng Khốn vì thì đại éo le, những hạng người thân ái với mình, trên dưới thảy đều Khốn, tượng như một hạng người; trên bị hình tỉ, mà mũi thụ thương dưới bị hình nguyệt, mà chân bị thương. (Tỉ, là hình hớt mũi; Nguyệt, là hình khoét chân).
Ngũ đã xử vào hoàn cảnh Khốn, mà thượng hạ câu thương, lúc bây giờ hào Âm nhu ở trên là Thượng Lục, toan ra tay đè ép mình; hào Dương cương ở dưới mình là Cửu Tứ, lại toan cất trật mình. Những bọn đó làm hại mình đã đành, mà thậm đến một người rất thân tín mình là Cửu Nhị, mà mình đã từng đem xích phất đến cho nó, cũng chỉ đứng trông mỏi mắt, làm thêm Khốn cho mình mà thôi. Chữ Xích phất ở đây tức là chữ Chu phất ở Cửu Nhị, cũng nghĩa là bít tất đỏ. Sở dĩ Khốn vu xích phất, há phải Cửu Nhị không thương Cửu Ngũ đâu. Nhị với Ngũ vẫn đã đồng đức không lẽ bỏ nhau, nhưng vì hoàn cảnh gay go, tình cách, thế cấm, mà chưa dám tiếp hạp cho mau; nhưng Nhị đã cương trung, mà Ngũ cũng cương trung, tất dần dà bao lâu cũng có ngày bắt tay hả dạ. (Từ, là có ý thủng thẳng; Duyệt, là có ý vui mừng).
Tuy nhiên, tâm lí Nhị, Ngũ như thế, mà đụng lấy thì thế như kia: Từ hữu duyệt mặc lòng, nhưng cũng chẳng qua tỏ tấm lòng thành thiệt mà thôi, sự thế đã như thế, thời chỉ có một cách ôm giấu lòng tinh thần, hữu thỉ hữu chung in như đem lòng thành kính mà cảm động thần minh; "Tinh thành sở chí, kim thạch năng khai", chắc lâu ngày cũng được phúc, nên lại nói rằng: Lị dụng tế tự, nghĩa là lị dụng tấm lòng thành kính ở lúc tế tự mà xử vào thì Khốn, chờ khi trời bênh thần hộ, mới có thể hữu vi (Chữ Tế tự ở đây, ứng với chữ Hưởng tự ở Cửu Nhị).
Tượng viết: tỉ nguyệt, chí vị đắc dã; nãi từ hữu duyệt, dĩ trung trực dã; lị dụng tế tự, thụ phúc dã.
Tỉ nguyệt là trên dưới thảy thụ thương, thì đã đến thế, còn chắc gì đắc chí nữa. Dần dà rồi cũng được vui mừng, là vì có đức cương trung mà lại ngay thẳng đó vậy. Đụng thì thế như thế, chỉ duy giữ chặt lòng chí thành, đau đời thương dân in như lòng thành thờ thần, thời cuối cùng chắc cũng thụ phúc đó vậy.
PHỤ CHÚ: Chữ "Thụ Phúc" ở Cửu Ngũ, với chữ "Hữu Khánh" ở Cửu Nhị, thảy là một ý tứ. Nhưng mà Phúc khánh chẳng phải thuộc về phần hưởng thụ, mà chỉ thuộc về phần tinh thần, thì thế dầu chưa đại hữu vi, nhưng xét lại lòng mình và việc mình làm, trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với thương sinh, ngoài không thẹn với non sông, trong không thẹn với tâm sự. Thế là phúc khánh ở thì Khốn.
6. - Thượng Lục, khốn vu cát lũy, vu niết ngột, viết động hối, hữu hối, chinh, cát.
Thượng Lục, ở về cuối cùng thì Khốn, tất nhiên Khốn chi cực. Nhưng mà thường lí trong thiên hạ, vật cùng tắc phản, sự cực tắc biến. Khốn mà đến cùng cực rồi, lẽ tất phải thông, nên nói rằng: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột. Cát lũy, là ngùm dây sắn; Niết ngột, là khấp khểnh, gập ghềnh.
Hoàn cảnh bị ràng buộc như chằng chịt vào ngùm dây sắn, lại đi đứng vào chốn khấp khểnh gập ghềnh. Như thế, là khốn đã cực rồi, nhưng mà nhân lực có lẽ hồi được thiên vận, anh hùng có khi tạo nên thì thế, chẳng cần gì lo, chỉ cốt nhất là can đảm cho lớn, mà lại có trí khôn ngẫm nghĩ cho sâu xa. Hễ có làm việc gì, tất lòng tự hỏi lòng mà nói rằng: E động mà có hối chăng. (Ba chữ này là miêu tả cái tinh thần ăn năn suy nghĩ). Ở vào hoàn cảnh khốn cực tắc biến, mà hay biết hữu hối như thế, thời từ rày sắp đi, chắc hành động được tốt.
Tượng viết: Khốn vu cát lũy, vị đáng dã, động hối, hữu hối, cát hành dã.
Thượng Lục sở dĩ Khốn vu cát lũy, là cách xử trí của mình chưa đúng đạo thoát Khốn vậy. Nếu biết được như thế, mà hối quá tự tân, thời gặp lúc Khốn cực tắc thông, chắc tiến hành được tốt, nên nói rằng: Động hối, hữu hối, cát hành dã.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc suốt Quái từ hào từ quẻ Khốn mà sinh ra hai mối cảm tưởng: Quái từ nói rằng Khốn hanh, trinh đại nhân cát, mà sáu hào thời hai hào Hung một hào Lẫn, dư các hào, hào nào cũng có chữ Khốn, chỉ duy Thượng Lục có chữ Cát. Thế thời người ta ở trong Vũ trụ, chẳng ai là chẳng bị chinh phục vì hoàn cảnh chung, đó là một mối cảm tưởng.
Nhưng mà người đứng giữa trời đất, tất phải có trí lực đảm lực, phách lực mà chiến thắng với hoàn cảnh riêng, đó lại là một cảm tưởng.
Lí do bởi vì sao? Chinh phục hoàn cảnh chung, tất phải nhờ trợ lực ở nơi xã hội. Xã hội còn đương sụp vào vùng mù đen mây tối, dầu Thánh hiền hào kiệt cũng không thể cậy một sức mình mà đánh đổ được hoàn cảnh tối tăm.
U bất minh như Sơ Lục; bất tường như Lục Tam, tài hèn trí ám thôi chẳng nói gì bọn họ. Ví dù có đức cương trung như Cửu Nhị, có tài có vị như Cửu Ngũ, nhưng cũng chẳng khỏi khốn với hung, tất phải chờ thì Khốn đã cùng, vận hanh sắp tới, toàn thể xã hội đã gặp nhịp đêm tàn đông rạng, đông hết xuân về, mới được hai chữ "Chinh cát", nhưng xem đến hào từ vẫn còn nói rằng: Động hối, hữu hối, thời khổ tâm thâm lự biết chừng nào, mà mới thấy được thiên hạ thoát được vòng khốn nạn. Như thế, thời chiến thắng được hoàn cảnh chẳng phải là khó lắm hay sao?
Nhưng chúng ta đã sinh gặp lúc hoàn cảnh chung ấy, thời bản thể mình cũng là một phần tử ở trong hoàn cảnh ấy, phần chung mà không chiến thắng được, còn có lẽ đổ tội cho xã hội. Chứ như phần riêng mà không chiến thắng được, thời đổ tội với ai?
Cột đá giữa dòng sông lớn, tùng bá giữa tiết trời đông, chính là nghĩa vụ riêng của phần chúng ta. Chúng ta dầu không có sức chiến thắng với hoàn cảnh chung, nhưng há lẽ chịu hàng phục với hoàn cảnh riêng hay sao? Đã không chịu hàng phục với hoàn cảnh riêng, thời nên thế nào?
Xin xem ở Quái từ có chữ "Trinh đại nhân", với Soán truyện có câu: Kì duy quân tử hồ! Và câu: Dĩ cương trung dã; nhân mấy câu ấy thời ta cứ lo giữ đạo trinh chính, mà bao nhiêu đường xiêu lối vạy ta chớ đút chân vào, ta cứ giữ lấy đức cương trung, mà dầu bao nhiêu sấm sét chông gai, ta không chịu biến tiết. Như thế là Khốn nhi bất thất kì sở hanh, dầu hoàn cảnh chung Khốn đến bao nhiêu, mà hoàn cảnh riêng tư, bản thân không bao giờ nao núng, thân tuy khốn mà đạo mình vẫn hanh, chẳng phải là đại nhân quân tử hay sao? Nếu may mà đặt thân mình vào địa vị Cửu Nhị, Cửu Ngũ, thời chỉ dùng cách tinh thành cảm Thiên địa, chính khí thông thần minh, như câu Lị dụng tế tự, lị dụng hưởng tự, mà Thánh nhân đã thí dụ cho ta hiểu.
Sách Quân tử có câu: Tư chi tư chi, hựu trùng tư chi, tư chi bất đắc quỷ thần thông chi. Nghĩa là: Nghĩ hoài, lại thêm nghĩ hoài, dầu nghĩ không đạt được chăng, thời có quỷ thần thông đạt cho.
Hễ những ai thương nòi tiếc giống, cảm cảnh đau đời, thời có phương pháp như trên là hay nhất, chẳng may mà gặp lúc vô khả nại hà, cực bất đắc dĩ, thời đã có câu: Trí mệnh toại chí ở Tượng truyện, thiệt là một cái kim chỉ nam cho chúng ta ở thì Khốn, còn sợ gì không chiến thắng được hoàn cảnh nữa rư?