Thánh Giáo Cao ĐàiMở app

Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải

Quẻ 48 — Thủy Phong Tỉnh 井

Trang in 507–516

Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải · Sào Nam Phan Bội Châu

Đọc bài nầy trong app: nghe đọc, tô màu, ghi chú, lưu lại.Đọc trong app

Quẻ này là quẻ Thủy Phong Tỉnh. Tốn hạ cũng là Nội Tốn; Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy, Tốn phong. Nên tên quẻ đọc bằng Thủy Phong Tỉnh.

TỰ QUÁI

Tự quái: Khốn hồ thượng giả, tất phản hạ, cố thụ chi dĩ Tỉnh.

Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Khốn tiếp lấy quẻ Tỉnh, là vì cớ sao?

Trên ấy là quẻ Khốn, Khốn ở sau Thăng, Thăng lên cuối cùng tất nhiên Khốn, Khốn ở chót vót cao, tất ngã mà nảy xuống dưới. Vậy nên, sau quẻ Khốn tiếp lấy quẻ Tỉnh. (Tỉnh, nghĩa là giếng, giếng là một chốn thấp hơn hết).

Theo như Tượng quẻ, Khảm tượng là nước, Tốn tượng là gỗ, vả lại Tốn có nghĩa là vào, đồ gỗ dùng vào dưới nước mà đưa nước lên, tượng là như múc nước giếng.

Lại như tượng sáu vạch, vạch Sơ đứt đôi, tượng như lỗ nước mạch chảy lên, chính giữa hai nét dương là nét liền, tượng là lòng giếng trữ nước, trung gian có một hào Âm, là cái lòng rỗng để lấy nước. Lại lên nữa là hào Ngũ cũng là nét dương, là tượng cái đồ để đậy miệng giếng, trên hết một nét đứt rỗng, là tượng cái miệng giếng nên đặt tên quẻ bằng Tỉnh.

SOÁN TỪ

Tỉnh, cải ấp, bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh. Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.

Tỉnh, cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh.

Toàn văn quẻ này, chỉ mượn bằng một sự vật mà thí dụ vào đạo lí, nên Quái từ mỗi câu, thảy ngậm một ý nghĩa ngoài chữ. Đây chỉ theo giữa mặt chữ, mà giải thích cho rõ nghĩa đen. Còn ý nghĩa với đạo lí, thời xin độc giả phải nhận kỹ sẽ hiểu.

Tỉnh, là giếng, hễ đã có làng xóm ở chốn nào, tất chốn ấy có người ăn nước; có người ăn nước, tất phải có giếng, nhưng làng xóm có khi thay đổi, mà giếng ở đâu thời thường ở đấy, chẳng bao giờ thay đổi. Giếng vì thường thường ở nhất định như thế, mà thường thường có nước mạch chảy ra hoài, nên nước đi mà không thấy kiệt, chứa lại mà không thấy tràn ra, thiệt là không mất cũng không được. Hai câu ấy, là nói bản thể của giếng.

Còn những công dụng của giếng, thời những kẻ qua người lại tất thảy là thấy giếng mà nhận bằng giếng. Hễ muốn được nước uống, tất phải lại giếng ngay.

Táng, nghĩa là mất; Đắc, nghĩa là được; Vãng, nghĩa là qua, là người múc được nước rồi mà đi; Lai, nghĩa là lại, là người toan múc nước mà tới; Cải ấp bất cải tỉnh, nghĩa là chốn ở vẫn nhất định; Vô táng vô đắc, nghĩa là đức tính của giếng vẫn hữu hằng; Vãng lai tỉnh tỉnh, là công dụng của giếng đầy khắp mà lại xuất ư vô tâm.

Người vãng chẳng bao giờ giếng có cự, người lai cũng chẳng phải giếng có mời, giếng chỉ lo làm hết công việc của giếng mà thôi, nên nói rằng: Tỉnh tỉnh (Tỉnh tỉnh, nghĩa là tỉnh kì tỉnh).

PHỤ CHÚ: Chỉ mấy câu ấy mà suy vào triết học rất có thú vị, đạo trời đất ở giữa vũ trụ, mặc dầu cuộc đời bể dâu, thói đời sốt lạnh, mà trời đất vẫn cứ y nhiên. Thế là cải ấp bất cải tỉnh. Ấp là nhân tạo; Tỉnh là thiên nhiên; Biến đổi là nhân tạo, không biến đổi là thiên nhiên. Đó là nguyên lí của tạo hóa.

Nguyên lai, vẫn có sẵn là thuộc về phần hữu tượng, nên không bao giờ mất, là vô táng.

Nguyên lai, chỉ hư không là phần vô hình, nên không bao giờ thấy được, là vô đắc.

Nhưng mà đã vô táng, thời cần gì nói đắc? Vì có táng, mới nảy ra đắc. Đã vô đắc; thời cần gì nói táng? Vì có đắc, mới nảy ra táng. Vô táng, vô đắc, chính là đạo lí rất tự nhiên, vừa rất hữu thường. Tuy nhiên, chân lí vẫn bất dịch vừa tự nhiên như thế, nhưng mà công dụng lại rộng khắp phi thường, dọc từ xưa tới nay, ngang từ đông chí tây, chẳng một sự một vật gì, mà chẳng sinh hoạt ở trong vòng chân lí, kết quả trời vẫn là trời, đất vẫn là đất; vạn vật đội ơn che chở, mà quên cả ơn trời đất, lại là công dụng xuất ư vô tâm, có khác gì vãng lai tỉnh tỉnh nữa đâu.

Ngẫm nghĩ mấy câu ấy, không khác gì câu ở sách Trung Dung: Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo.

Nguyên lí trời phú dữ cho ta mà gọi bằng tính, không bao giờ thay đổi, thế là bất cải tính. Chân tính đó, theo về Phật học, thời cũng gọi bằng Phật tính; bất sinh, bất diệt, tức là vô táng, vô đắc; noi theo tính ấy mà gọi bằng đạo. Kẻ dĩ vãng người phương lai, cũng chỉ đi vào đường ấy mà thôi, là vãng lai tỉnh tỉnh.

Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, luy kì bình, hung.

Trên ấy nói Thiên đạo là thuộc về lí tưởng với tự nhiên, bây giờ lại nói về Nhân sự là thuộc về phần thực tế và đương nhiên, cũng chỉ thủ thí bằng người múc nước giếng.

Trước hãy thích nghĩa chữ một: Ngật, cũng như nghĩa chữ Cơ, nghĩa là sắp sửa; Duật, cũng như nghĩa chữ Ngạnh, nghĩa là dây gàu múc nước; Luy, nghĩa là đổ bể; Bình, là cái bình đựng nước.

Hễ làm một việc gì, tất làm cho đến thành công, vô luận thờ một chủ nghĩa gì, hay mưu một sự nghiệp gì, tất phải làm cho tới nơi, mới thấy được kết quả của việc ấy. Nếu giữa đường mà vứt quách, hoặc gần tới mà nghỉ bỏ, thời tuy chưa thất bại, mà cũng gọi là thất bại. Tỉ như: Người đi múc nước giếng mà sắp sửa tới nơi, nhưng chưa kịp dòng dây gàu xuống giếng mà thình lình vỡ nứt cái bình đựng nước, té ra công đi tới giếng hoàn toàn hỏng ráo, chẳng uổng công lắm hay sao?

Chúng ta xem mấy câu thí dụ ấy, thời biết được chương trình làm việc phải có ba đoạn: Đoạn thứ nhất, là phải dò thăm cho ra giếng. Đoạn thứ hai, là phải cố công đi cho tới giếng, vả dụng công dòng dây xuống giếng, bao giờ múc được nước mới thôi. Đoạn thứ ba, là trong thì gian ấy, phải hết sức cẩn thận giữ gìn vật liệu khí cụ mình làm, chớ để nửa đường đổ bể; nếu không luy kì bình, thời nước chắc về tới nhà, chẳng phải là thành công hay sao?

Đau đớn thay! Nước chưa kịp múc xong, mà bình đã vữa đổ, công phu đi tới giếng, hóa ra dã tràng xe cát bể đông. Vậy nên làm việc thiên hạ cần phải có đại đởm, mà cũng cần phải có tiểu tâm, đó là thâm ý Quái từ dạy cho chúng ta vậy.

SOÁN TRUYỆN

Soán viết: Tốn hồ thủy nhi thượng thủy, tỉnh; tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã, cải ấp bất cải tỉnh, nãi dĩ cương trung dã; Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, vị hữu công dã; luy kì bình, thị dĩ hung dã.

Soán viết: Tốn hồ thủy nhi thượng thủy; tỉnh; tỉnh dưỡng nhi bất cùng dã.

Tốn, nghĩa là nhập; Nhập, nghĩa là vào, đồ mộc đưa vào nước mà đưa nước lên là tên nghĩa quẻ Tỉnh. Tỉnh, là giếng. Giếng nuôi người ta mãi mãi, mà chẳng bao giờ cùng.

Cải ấp bất cải tỉnh, nãi dĩ cương trung dã.

Cải ấp bất cải tỉnh là vì đức giếng hữu thường nên công dụng được rộng lớn, quân tử mà có đức được như thế, tất hạng người có đức cương trung như Nhị, Ngũ đó vậy.

Toàn quẻ duy hào Nhị, hào Ngũ dương cương đắc trung. Bởi vì, có đức cương trung, nên cũng hữu thường như đức giếng.

Ngật chí, diệc vị duật tỉnh, vị hữu công dã, luy kì bình, thị dĩ hung dã.

Tiết thứ hai, Quái từ lại mượn việc người gánh nước mà thí dụ bằng nhất thiết làm việc đời, hễ việc làm chưa nên cũng như chưa làm, tuy có đến tận giếng, mà chưa dòng dây gàu xuống giếng cũng như chưa có công dụng gì, mà vừa mất bình đựng nước, còn kể gì được công gánh nước nữa rư. Vì thế mắc hung đó vậy.

ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: mộc thượng hữu thủy, Tỉnh, quân tử, dĩ lạo dân khuyến tướng.

Đại tượng ở đây lại lấy một nghĩa đặc biệt, mà không lấy nghĩa bằng nước giếng. Vì xem ở Thể quẻ, Tốn là mộc, Khảm là thủy, thủy ở trên mộc, nghĩa là ở trên cây có nước. Cây là một giống sinh vật, hấp thụ tất thảy khí ở dưới đất thành ra tân dịch, mà đưa lên trên ngọn cây, nên trên cây thường hay có giọt nước ở đầu giọt lá. Thế cũng như nước mạch ở trong giếng chảy ra; mới đặt tên quẻ bằng Tỉnh.

Quân tử xem Tượng ấy mới biết rằng: Loài người sinh trưởng với nhau, cũng cần phải có nuôi nhau, làm người trên tất phải nuôi dân, nên thường phải yên ủi phủ tuất dân luôn luôn.

Chẳng những nuôi dân mà thôi, mà lại cần phải khuyến hiểu cho dân, bày vẽ cho bằng cách giúp đỡ lẫn nhau. (Lạo, là an ủy, phủ tuất; Tướng, là giúp đỡ lẫn nhau). An ủi dân, lại khuyến dân giúp đỡ nhau, là công phu tỉnh dưỡng của quân tử đời xưa: Hạ, Thương, Chu đặt ra phép tỉnh điền để nuôi dân, nuôi dân tám phu, chung nhau cày một tỉnh ruộng, mỗi tỉnh chín khoảnh, mỗi một khoảnh trăm mẫu, chung quanh tám khoảnh chia cấp cho tám phu, gọi bằng tư điền, chính giữa một khoảnh gọi bằng công điền, tất thảy gọi bằng một tỉnh; tỉnh vuông chín trăm mẫu, tám phu cày chung với nhau tám trăm mẫu, ra vào thường cặp bạn với nhau, cân sức hợp tác; mùa cày cấy, cày cấy giùm nhau; mùa gặt hái, gặt hái giùm nhau; đụng có người nào đau, thời các người kia phải làm đỡ cho người ấy; tám khoảnh ruộng tư làm xong, lại hùa nhau cả tám phu cày làm ruộng công, lúa ruộng công bao nhiêu thời nạp lên quan, để nuôi quan, dân không bao giờ phải đóng góp, mà quan thời chỉ cậy sức dân cày ruộng công mà được ăn lương, chứ chẳng phiền dân phải đóng góp, mà lại đến lúc mùa màng, thời quan phải đi tuần thị, thấy dân có thiếu thốn, thời phải bổ trợ cho dân, hoặc gặp lúc thiên tai thủy hạn, thời phải xuất của công cứu cho dân, như thế gọi bằng lạo dân khuyến tướng.

Tự đời Tấn, vì tệ quân chủ chuyên chế, bỏ phép tỉnh điền, mà lập ra phép phú thuế, nghĩa lạo dân khuyến tướng từ đó đã mất hẳn, mà dần dà tư bản chủ nghĩa mới phát sinh; dân sinh bây giờ ngày càng cùng khốn, ước ao có một ngày khôi phục tỉnh điền, như thuyết phân điền chế sản của thầy Mạnh Tử.

Phân điền, nghĩa là quân phân điền địa cho dân, khiến cho không ai nhiều ai ít.

Chế sản, nghĩa là hạn chế tài sản cho dân, khiến cho không ai thừa ai thiếu.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN

1. - Sơ Lục, Tỉnh nê, bất thực, cựu tỉnh vô cầm.

Toàn nghĩa sáu hào quẻ này, chỉ thủ tượng bằng giếng, giếng là có công nuôi được người, mà sở dĩ nuôi được người, là vì có nước mạch, nước mạch thường có hơi ấm, thuộc về dương, nên ở trong quẻ phải lấy hào Dương mà thí dụ bằng tuyền. Tuyền tức là nước mạch. Hễ hào Âm nhu tức là giếng không nước mạch; đã không nước mạch thì sao gọi bằng giếng được.

Sơ Lục âm nhu mà lại cư hạ, bản chất đã hèn hạ, trên lại không người kéo dắt mình, không thể nào làm được công dụng nuôi người, tượng như giếng không nước mạch mà chỉ thấy những bùn, nên không ai tới múc nước ăn. Giếng đã không ai tới múc nước, tất nhiên lâu ngày thành giếng bỏ, chẳng những người không ngó tới, mà dầu loài cầm có khát chăng nữa, cũng không tới ngó làm gì. Hào từ này chỉ nói một hạng người hèn hạ, mà tính nết lại dơ bẩn không khác gì giống bùn, chính là một hạng người bỏ ở trong đời mà thôi.

Tượng viết: Tỉnh nê bất thực, hạ dã; cựu tỉnh vô cầm, thì xã dã.

Tỉnh nê bất thực, là phẩm cách mình quá ty hạ vậy; Cựu tỉnh vô cầm, là bị trong đời chê bỏ vậy.

Chữ Thì đây, khác với chữ Thì ở Kinh văn. Chữ Thì mọi nơi là mùa, là buổi, là giờ, tổng chi gọi bằng Thì; còn chữ Thì đây chỉ nghĩa là người trong đời. (Thì xã, nghĩa là người ở trong đời không ai dùng mình).

PHỤ CHÚ: Ở về thì Tỉnh, nếu đã thiệt tỉnh rồi, thì ai nỡ bỏ đâu. Nhưng Sơ Lục vì sao mà bất thực? vì sao mà thì xã? Cái đó chỉ nên tự trách bản thân Sơ Lục, Sơ đã như giếng không nên giếng, còn ai dụng đến mình nữa đâu.

Vậy nên, chúng ta ở trong đời, muốn cho đời quý trọng mình, trước hết phải bồi dưỡng lấy nhân cách mình.

Đức Khổng Tử đã nói rằng: Người ở đời chớ lo không ai biết đến mình, mà chỉ lo làm sao cho xứng đáng được người ta biết. Như hào Sơ Lục này vẫn không tư cách khả tri, làm sao mong được người tri mình.

2. - Cửu Nhị, Tỉnh cốc, thiệc phụ, úng tệ lậu.

Công dụng của giếng, là cốt đưa nước lên trên giếng được, mà lại cần người ở trên giếng múc lên cho. Vậy sau giếng mới có công dụng. Cửu Nhị tuy có tài dương cương, nhưng mà ở về hạ thể, trên không có người ứng viện cho mình, vả người thân cận với mình là Sơ Lục lại là người vô dụng. Vậy nên, không làm nổi được công việc nuôi người, tượng như giếng ở trong hang, mạch nước tuy có chốn chảy ra, nhưng chỉ lách tách năm bảy giọt bắn vào trên lưng con phụ, in như chum nứt vữa mà nước mót ra.

Như thế, thiệt là không công dụng Tỉnh. Nói cho đúng, thời chỉ giếng không thành giếng mà thôi.

Tượng viết: Tỉnh cốc thiệc phụ, vô dữ dã.

Cửu Nhị vẫn không đến nỗi vô tài, nhưng vì ở trên không người ứng viện với mình. Tỉ như: Có ít nhiều nước mạch, mà không người ở trên múc lên cho, thế là vô dữ, nên hào từ nói: Tỉnh cốc thiệc phụ. Vô dữ, nghĩa là không người giúp mình.

PHỤ CHÚ: Ở vào thì Tỉnh, mà hạng người như Sơ với Nhị, thảy là người vô công ư thì. Nhưng nguyên nhân thời khác nhau. Sơ, là tài bất kham dụng, nên hào từ nói rằng: Tỉnh nê. Nhị có tài, lại bị khốn với hoàn cảnh, nên hào từ nói rằng: Tỉnh cốc.

Giếng mà bùn, là đồ bỏ đi đã đành, chứ giếng mà ở hang, thời còn có nước mạch, chẳng phải là tuyệt đối vô dụng. Nên Tượng từ ở hào Sơ thời nói rằng: Thì xã; mà Tượng từ ở hào Nhị, thời nói rằng: Vô dữ, là có ý thương tiếc cho Nhị.

3. - Cửu Tam, Tỉnh điệp, bất thực, vi ngã tâm trắc, khả dụng cấp, vương minh, tịnh thụ kì phúc.

Cửu Tam, bản chất dương cương, ở vào vị chính, lại đụng ở vào trên địa vị Nội quái chính là một hạng người có tài dụng đời, mà lại sẵn có tấm lòng tế thế, in như giếng mạch tốt, nước trong, đáng lẽ người ta múc ăn mới phải, mà ai dè địa vị còn ở Hạ quái, mà như nước giếng chưa múc lên trên, thành ra chưa ai ăn đến nước giếng ấy. Vì thế, nên nỗi những người đi đường, ai cũng than thở cho giếng trong trẻo thế này mà không ai dùng tới. Ngã, là chỉ vào Cửu Tam; Tâm trắc; nghĩa là trong lòng lấy làm đau. Người đi đường mà đau lòng, là vì Cửu Tam có tài mà chưa gặp Thì đó vậy.

Tuy nhiên, lẽ trong thiên hạ, đã sinh ra tài ở một đời, là cốt để làm việc một đời ấy. Giếng đã trong sạch như Cửu Tam, chắc người ta cũng đến dùng nước giếng ấy, múc lên mà ăn; hoặc có một ngày gặp bậc vương minh xuất hiện, lúc bấy giờ người trên dùng tài mà người dưới được nhờ; người dưới có tài thời người trên được nhờ, hai bên thảy chịu phúc khánh. (Vương minh, nghĩa là vị vương lại có đức minh).

Trái lại, vương mà ám, thời giếng này cũng chỉ bất thực mà thôi. Nói tóm lại, giếng trong là Cửu Tam, người dùng nước giếng ấy là Vương minh.

Tượng viết: tỉnh điệp bất thực, hành trắc dã, cầu vương minh, thụ phúc dã.

Giếng trong sạch mà không người dụng để ăn, cũng như trong xã hội có bậc tài đức mà không ai dụng tới nơi, thiệt là một việc đáng đau đớn cho xã hội, nên đến nỗi hành trắc. Hành trắc, nghĩa là người đi đường trông đến giếng mà xót ruột vì đời không có vương minh. Đức Khổng Tử nói rằng: Minh vương không dậy ở trong đời, thời ai là người chịu tôn dụng mình. Vì đau đớn cho bậc tài trí không được dụng vậy, trông mong cho có vương minh, thời thiên hạ thảy được thu phục vậy.

PHỤ CHÚ: Hào từ này chú trọng ở chữ "Tâm trắc" và chữ "Vương minh".

Cửu Tam, tỉnh điệp, là bổn phận của Tam đã đành tốt rồi, nhưng tài trí của Cửu Tam vẫn là tài trí chung của xã hội, thứ nhất là trông mong cho xã hội nhiều người hữu tâm.

Nếu xã hội đã nhiều người tâm trắc Cửu Tam, thời giếng đó há lẽ bỏ không hoài hoài?

Tức như: Có dân Ấn Độ, thời thánh Cam Địa chẳng phải là người trót ở tù; có quốc dân Trung Hoa, thời Tôn Trung Sơn chẳng phải là người trọn đời làm bô khách. Chính là vì xã hội tâm trắc quá nhiều, nên kết quả cũng được dụng cấp. Thứ nữa, là có Vương minh, tất có Thành Thang thời Y Doãn mới làm nên phạt Kiệt cứu dân, có Uy Liêm đệ nhất, thời Tỉ Sĩ Mạch mới làm nên phú cường cho nước Đức Ý Chí.

Nếu không vương minh như hai người trên ấy, thời giếng trong đó ai dụng cấp rư.

Vì vậy, Tượng truyện lại nói hai chữ "Hành trắc", chữ Cầu đặt trên chữ Vương minh, ý tứ Thánh nhân há phải chỉ nói giếng mà thôi.

4. - Lục Tứ, Tỉnh thu, vô cựu.

Thu, là ghép gạch ở tư bề giếng, với lòng giếng, làm cho nước giếng được trong sạch mà không gợn.

Lục Tứ tuy là bản chất âm nhu, nhưng thượng tiếp Cửu Ngũ là một bậc dương cương trung chính mà lại ở ngôi tôn. Tứ lại ở vị đắc chính, nhờ thế lực của Ngũ mà làm xong bổn phận của mình.

Tượng như giếng nước mạch vẫn chẳng bao lăm, mà trau dồi thấy ra tử tế, không đến nỗi tỉnh nê như Sơ Lục, tuy không công gì lớn mà không tội lỗi.

Tượng viết: Tỉnh thu vô cựu, tu tỉnh dã.

Tỉnh thu mà được vô cựu, nghĩa là giếng này tuy không công gì lớn, nhưng thường hay tu lí, thời cũng không đến nỗi thành giếng bỏ. Theo tài chất của Lục Tứ được như thế, là hay rồi.

5. - Cửu Ngũ, tỉnh liệt; hàn tuyền thực.

Hễ nước giếng quý nhất là trong veo lạnh buốt, mà lại múc lên được cho người ăn. Cửu Ngũ dương cương trung chính, tượng như mạch nước giếng rất trong, nên nói rằng: Tỉnh liệt. Liệt, nghĩa là trong veo lạnh buốt.

Ngũ lại ở vào quẻ trên, đứng vào địa vị chí tôn, tượng như nước giếng múc lên trên mặt giếng mà người ta được ăn, nên lại nói: Hàn tuyền thực.

Thích tóm lại, Ngũ đã dương cương trung chính lại ở ngôi tôn, nên ơn trạch được dầm thấm khắp thiên hạ.

Thí dụ: Vào giếng, là giếng đã có chất trong sạch lại có công lớn, nên hào từ được như thế.

Tượng viết: hàn tuyền chi thực, trung chính dã.

Tỉnh đến Cửu Ngũ, mới có hàn tuyền thực, là vì Ngũ có đức trung chính, đức Ngũ tất hơn hết ở thì Tỉnh, chính là một cái giếng rất tốt đó vậy.

6. - Thượng Lục, Tỉnh thu, vật mạc, hữu phu, nguyên cát.

Thu, nghĩa là múc nước lên; Mạc, là che trùm. Công dụng của giếng là cốt đưa nước lên khỏi miệng giếng. Tỉnh đạo đến đó vừa hoàn thành, là nước giếng đã múc lên rồi, thời nên để cho tất thảy người dùng, chớ nên che trùm lại. (Chữ Vật ở đây, là có ý cấm chỉ. Vật mạc, là cấm chỉ che trùm lại).

Bởi vì, cái giếng đó nên đưa làm của công, mà không để làm riêng của một nhà, hễ ai muốn múc thời tùy ý múc. Hiền nhân quân tử đem tài trí mình làm ích lị cho thiên hạ cũng như thế, nên nói rằng: Tỉnh thu vật mạc.

Tuy vậy đã đành, nhưng công việc tế thế an dân, há phải một chốc một lát mà làm nên được đâu, tất phải làm mãi mãi mà không cùng, in như cái giếng kia, mạch chảy mãi mà không hết, người múc luôn mà không cùng kiệt.

Như thế, thời công dụng giếng mới hoàn thành, nên nói rằng: Hữu phu nguyên cát. Hữu phu, nghĩa là hữu thường mà không thay đổi. Nguyên cát, nghĩa là được lành lớn.

Thích tóm lại, giếng đã đến lúc người múc đông, ấy là Tỉnh thu; nên đưa làm giếng chung cho thiên hạ, mà không nên che đậy, ấy là Vật mạc, thường thường như thế mãi mãi, mà không biến dịch, ấy là Hữu phu.

Công dụng giếng đến lúc bấy giờ, mới hoàn toàn mỹ mãn, ấy là Nguyên cát. Còn ý tứ ở ngoài mặt chữ, thời quân tử đem tài đức ra gánh việc đời, là Tỉnh thu.

Hễ lị ích cho thiên hạ thời cứ làm, mà chẳng bao giờ tiếc công riêng lị, là Vật mạc. Đã xuất lực nhậm lao, lại chí công bác ái dầu trăm năm cũng như một ngày, là Hữu phu. Công việc cứu đời đến lúc hoàn toàn mỹ mãn là Nguyên cát.

Tượng viết: nguyên cát tại thượng, đại thành dã.

Ở trên hết quẻ, mà được nguyên cát, bởi vì, công dụng của giếng cốt đưa nước lên trên. Bây giờ đã đến vị trên hết, ấy là công dụng Tỉnh đã đến lúc đại thành rồi.

PHỤ CHÚ: Thông lệ các quẻ ở trong Dịch, đến hào cuối cùng là hào Thượng, thường thủ nghĩa cực thời phải biến, như Thái chi cực, thời có chữ Mệnh loạn. Dự chi cực, Thăng chi cực, thời có chữ Minh dự, Minh thăng.

Hễ đến hào Thượng, thường hay vì cực mà tốt hóa ra xấu.

Duy quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh, không thủ nghĩa bằng Cực, mà thủ nghĩa bằng Chung.

Tỉnh chi chung, là nước đã múc về nhà; Đỉnh chi chung, là đồ ăn nấu đã chín, nên đến hào Thượng là thành công. Tượng truyện hai hào ấy, đều có chữ Tại thượng, là muốn cho độc giả hiểu ý ấy. Đó cũng là một biến lệ ở trong Dịch.

Bây giờ lại bàn tóm cả sáu hào quẻ Tỉnh, văn lí rất tiếp tục, ý nghĩa rất chiếu ứng với nhau.

Bởi vì: Tên quẻ Tỉnh, là mượn một vật mà ngụ vào đạo lí, đầu đuôi sáu hào là chỉ nói cái giếng, có thể chia làm ba đoạn:

Một là: Hào Sơ, hào Nhị ở về đoạn dưới. Sơ lại ở vào đáy giếng mà có bùn, nên nói rằng: Tỉnh nê. Nhị có cao hơn Sơ chút đỉnh, nên nói rằng: Tỉnh cốc.

Hai là: Tam, Tứ ở vào đoạn giữa, vừa đúng khoảng trung tâm giếng, bùn ở Sơ đã lắng trong, nên thấy được Tỉnh điệp. Cốc ở Nhị đến đó đã tu lí, nên mới thấy được Tỉnh thu.

Ba là: Duy Ngũ, Thượng là về đoạn trên, nhưng Ngũ chưa lên tận miệng giếng, thời công dụng của giếng chưa được hoàn thành.

Đến hào Thượng, nước đã lên khỏi giếng, nước giếng đã tràn qua miệng giếng, là công dụng của giếng đến đó mới hoàn thành.

Vậy nên, trong sáu hào, hào Thượng được Tỉnh thu nguyên cát. Xem suốt sáu hào, thời bảo văn lí rất hay vẫn rất đúng, mà bảo rằng: Lí luận với sự thực chẳng bao giờ trái nhau cũng rất đúng.

Hiểu, hay không hiểu, quyền tại độc giả.