Thư viện › Chu Dịch — Quốc văn Chu Dịch diễn giải
Quẻ 49 — Trạch Hỏa Cách 革
Trang in 517–530
Quẻ này là quẻ Trạch Hỏa Cách. Li hạ cũng là Nội Li, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Li hỏa. Nên tên quẻ đọc bằng Trạch Hỏa Cách.
TỰ QUÁI
Tự quái: tỉnh đạo bất khả bất Cách, cố thụ chi dĩ Cách.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tỉnh tiếp lấy quẻ Cách, là vì cớ sao?
Trên ấy là quẻ Tỉnh. Tỉnh, nghĩa là giếng, hễ nước giếng trữ quá lâu ngày, thời gợn bụi tích lại ngày thêm nhiều, mà mất nguyên chất trong sạch. Nên đào giếng tất thường phải có Cách, nghĩa là tát sạch nước cũ đi để cho nước mạch mới ra, tục gọi bằng Khảo giếng, chính là nghĩa chữ Cách. Vì Tỉnh đạo tất phải có Cách. Vậy nên sau quẻ Tỉnh, tiếp lấy quẻ Cách. Ý nghĩa chữ Cách, chỉ là: thay những giếng cũ mà làm ra giếng mới có nghĩa là Biến cách, mà cũng gọi bằng Cải cách, Canh cách. Nên học nghĩa Cách là thay, Cách là đổi cũng thông. Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng Cách, thời đã tường ở Soán truyện.
SOÁN TỪ
Cách, dĩ nhật, nãi phu, nguyên hanh, lị trinh, hối vong.
Cách chỉ, nghĩa là đổi cũ, hễ việc gì đã cũ, giống gì đã cũ, tất phải Cách, vì có hai cớ:
Một là: Theo về lịch sử, cái gì đã lâu ngày tất có tích tệ, tích tệ lâu ngày mà không đổi, thời tệ bệnh không thế nào trừ. Vậy nên phải Cách.
Hai là: Theo về hoàn cảnh, hoàn cảnh ở hiện tại, đã khác hẳn với hoàn cảnh ngày xưa, muốn cho thích hợp với xã hội hiện tình, tất phải đón rước triều lưu mới lạ; mà đã muốn đón rước triều lưu mới lạ, tất nhiên những cái cổ hủ phải bỏ đi. Vì hai cớ như trên, nên trong việc đời không bao giờ khỏi Cách.
Vì vậy mà trong Dịch phải có quẻ Cách. Cách, cũng là một việc rất tầm thường. Tỉ như: áo đã rách tất phải may áo mới, nhà đã cũ tất phải dựng nhà mới. Chỉ nói qua như thế, vẫn chẳng lạ lùng gì, nhưng bàn đến sự thực thời há dễ đâu, chỉ Cách ở một thân một gia, mà còn không cẩu thả làm nên, huống chi Cách đến một quốc gia, một xã hội, thời gay go khốn nạn biết dường nào.
Bởi vì, bao nhiêu việc cũ, thời tập quán đã sẵn, mà bỗng chốc thay đổi, thời nhân tình kinh nghi. Vả lại, nền tảng mới chưa đắp xong, mà thốt nhiên đánh đổ nền tảng cũ, thời nhân tình khủng cụ. Huống gì việc Cách đó há phải một mình mà làm xong! Tất nhiên phải cầu trợ với đại đa số nhân, mà khốn nạn thay! Nhân tình chỉ là quen thường thủ cựu, mà ít người thông hiểu; thường nhân chỉ vui khi nên việc, mà khó tin lúc bắt đầu. Nặng nề thay, Cách! Khó khăn thay, Cách! Thế thời chúng ta nên nghĩ làm sao? Chỉ duy lựa ở thì thế, xét ở nghĩa lí, quả nhiên, Thì đã đến Cách, việc đã nên Cách, thời ta phải Cách. Trải bấy lâu ngày, nghĩa lí đã rõ rệt, thì thế cũng theo chiều, bây giờ nhân tâm phải theo phục; nghĩa là Cách đã trải bấy lâu ngày, thời người mới tin.
Tuy nhiên, tin hay không tin, là quyền tại lòng người. Nhưng sở dĩ người tin hay không tin, thời chỉ căn bản ở nơi công việc Cách.
Chúng ta khi bắt đầu ra làm việc Cách, tất phải hết sức ngẫm nghĩ cho đến hai lẽ này: Vì cái cũ đã hoại loạn mà phải Cách, tất phải tính cái làm mới đó, có chắc là nguyên hanh không? Đó là cân nhắc về phía thì thế.
Vì cái cũ xiêu lệch bất chính mà phải Cách, tất phải nghĩ bây giờ làm ra Cách đó, có đúng hợp với đạo chính hay không, đó là châm chước về phần nghĩa lí; nếu lựa được thì thế mà chắc rằng Cách thời đại thông, xét về nghĩa lí mà chắc rằng Cách thời lợi ư chính đạo, thời ta cứ việc Cách.
Cách mà hợp với thì thế, quả nhiên nguyên hanh. Cách mà đúng với đạo lí, quả nhiên lị trinh. Lúc bây giờ tệ cũ đổi sạch, nghiệp mới dựng nên, lòng người đã tín phục, mà việc cũng tốt lành, chắc không phải ăn năn.
PHỤ CHÚ: Soán từ ít thấy chữ Hối vong, duy quẻ Cách mới thấy chữ Hối vong.
Bởi vì, việc trong thiên hạ, không gì dễ hơn việc Cách, mà cũng không gì khó hơn việc Cách. Cách mà đáng, thời vẫn không sợ gì, lỡ ra Cách mà không đáng, thời chẳng những hiện tại đã nhiều nỗi khó khăn, lại gây mầm họa cho tương lai, thêm ngăn đón con đường tấn bộ, thiệt ăn năn không biết chừng nào! Mà huống gì sự thế đã đến lúc thất bại, dầu ăn năn cũng không ích gì. Tả Truyện có câu: Tê khả phệ hồ, nghĩa là việc đã hư hỏng, dầu cắn rốn mà kịp nữa rư! Tục ta thường nói: Phệ tê hà cập, chính là hối cũng vô ích. Vậy nên Quái từ hết sức trịnh trọng về việc Cách, mà kết thúc lấy hai chữ Hối vong.
SOÁN TRUYỆN
Soán viết: Cách, thủy hỏa tương tức, nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, viết Cách. Dĩ nhật, nãi phu, Cách nhi tín chi. Văn minh dĩ duyệt, đại hanh dĩ chính, Cách nhi đáng, kì hối nãi vong. Thiên địa Cách nhi tứ thì thành, Thang Võ cách mạng, Thuận hồ thiên, nhi ứng hồ nhân, Cách chi thì đại hĩ tai.
Soán viết: Cách, thủy hỏa tương tức, nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, viết Cách.
Đây là lấy Tượng quẻ thích nghĩa tên quẻ. Quẻ này Đoài trên Li dưới. Đoài là nước chằm, Li là lửa, lửa nhen thời nước phải khô, nước xối thời lửa phải tắt, thủy hỏa chung nhau tất phải biến Cách, đó là thủ nghĩa Thủy hỏa tương tức.
Lại còn mượn một Tượng nữa: Đoài là con gái út, Li là con gái giữa, hai người con gái chung nhau một chốn.
Nhưng tâm chí hai người đó xu hướng bất đồng, mà không sẵn lòng hợp tác với nhau. Đó là thủ tượng Nhị nữ đồng cư, kì chí bất tương đắc, vì tượng như thế tất phải biến Cách, nên đặt tên bằng quẻ Cách.
PHỤ CHÚ: Chữ "Tức" có hai nghĩa: Tức là tắt, là nghĩa chữ Tức ở đây; một nghĩa Tức là đẻ ra, là sinh ra.
Phật học thường có chữ Diệt tức, là theo về nghĩa trên. Nhà tư bản thường dùng chữ Sinh tức, Lị tức, là theo về nghĩa dưới. Nhưng ở trong vật lí, hễ một việc này tắt, thời có việc khác sinh ra; hễ một giống này chết, thời có giống khác nảy ra.
Tằm chết, mà sinh ra bướm; khương trùng chết mà con ve sinh ra. Vậy nên trong chữ Tức ngậm có hai nghĩa, có diệt tức mà sau mới sinh tức, hai lẽ đó tuần hoàn luôn luôn mà không bao giờ nghỉ. Tổng chi, cũ không đổi thời mới không sinh. Vì vậy, mà phải Cách, chỉ tranh nhau Cách mà được, hay Cách mà thua, thời lại quan hệ ở nơi thế lực cũ mới. Duy có một lẽ, chúng ta rất nên biết, thế lực cũ chỉ là thế lực hiện thành, hiện thành tất lần lần xây vào tiêu cực; thế lực mới là thế lực tiềm dưỡng, tiềm dưỡng thời có lẽ lần lần tích cực.
Nếu làm Cách mà biết trước được tiềm dưỡng thế lực, quyết không bao giờ không thành công. Xem như trên Quái từ đã có chữ "Nãi phu" lại có chữ "Hanh lị", thời biết được cả thế nào cũng diệt tức, mới thế nào cũng sinh tức, việc đã đáng Cách còn sợ gì mà chẳng Cách.
Dĩ nhật, nãi phu, Cách nhi tín chi.
Hễ những việc cải cách, há bỗng chốc mà người đã tin rư? Lòng người đã chẳng tin, thời việc Cách đó không kết quả.
Vậy nên, trong khi làm Cách, tất phải lập chương trình cho tốt, kén Chủ nghĩa cho tinh, dám chắc rằng: Trải bao nhiêu ngày thời chắc lòng người tin, nghĩa là Cách mà lòng người tin đó, nghĩa câu: Dĩ nhật nãi phu, là như thế.
Văn minh dĩ duyệt, đại hanh dĩ chính, Cách nhi đáng, kì hối nãi vong.
Đây lại lấy đức quẻ thích lời quẻ, quẻ có thể Li, Li là văn minh, quẻ có thể Đoài, Đoài là hòa duyệt; lấy đức Văn minh mà soi xét sự lí, lấy tính hòa duyệt mà thỏa thuận với lòng người, sự lí đã soi xét được rạch ròi, mà nhân tâm cũng thỏa thuận, thời những việc Cách đó chắc cũng được đại thông mà được trinh chính.
Hai câu trên ấy là căn bản của người làm Cách; chữ Minh, chữ Duyệt là thuộc về phần tài đức. Nếu chẳng minh thời chẳng lấy gì mà liệu nhân liệu sự, tri kỉ tri bỉ. Nếu chẳng hòa duyệt thời lấy gì mà liên kết quần chúng, mà được đại đa số biểu đồng tình, thời làm gì nổi được việc Cách.
Bây giờ phía trong thời chứa trữ đức Minh, phía ngoài thời hiển hiện ra tính Duyệt, đó là căn bản của người làm Cách.
Nhưng lại phải dò cho hết đường đi nước bước cho chắc được đại thông, chủ nghĩa mục đích cho hợp với chính đạo (chữ Hanh, chữ Chính là thuộc về quy mô), đủ như hai câu trên ấy, thế là Cách mới đáng bao nhiêu việc mà phải ăn năn nhất định không còn.
Quái từ sở dĩ nói Hối vong, mà không nói Vô hối, là vì cớ sao?
Nguyên lai, việc đời sở dĩ có Cách là chỉ vì những việc hủ bại về ngày xưa, nhiều việc đáng hối, là thuộc về phần dĩ vãng. Vì thế mà bây giờ phải Cách.
Nếu Cách mà lại hư hỏng, Cách mà chẳng thành công, thời lại nảy ra vô số việc hối về tương lai.
Thánh nhân vì lo cho như thế, nên nói rằng: Cách nhi đáng kì hối nãi vong. Than ôi! Nặng nề thay! Trách nhiệm Cách; To lớn thay! Sự nghiệp Cách. Cách mà không đáng, âu là không Cách còn hơn. Bởi vì, chẳng Cách, thời chỉ là hối về dĩ vãng, còn nói rằng: Lai giả khả truy.
Trái lại, hối vì Cách mà chẳng đáng, thời là hối luôn đến tương lai, thành ra cái vạ sa chân với chẳng lại. Chúng ta nên nhận kỹ chữ Đáng với chữ Hối vong. Nghĩ làm sao cho đáng, với Hối vong rư? Nếu chúng ta nghĩ chưa ra, xin chớ vội bàn chuyện Cách.
Thiên địa cách, nhi tứ thì thành, Thang Võ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân. Cách chi thì đại hĩ tai.
Khổng Tử thích Quái từ xong, lại nghĩ ngẫm đến đạo Cách mà biết rằng: Tạo hóa sở dĩ thành công, loài người sở dĩ bất tuyệt.
Tổng chi, phải nhờ bằng Cách; tức như trời đất biến dịch luôn, bốn mùa thay đổi hoài, có như thế, thời vạn vật mới sinh trưởng thành tựu.
Nếu trái lại, trời chẳng thay rét sang ấm, chẳng thay hạ sang thu, chẳng thay đông sang xuân, thời làm sao nên được công tạo hóa. Vì vậy, nên nói rằng: Thiên địa cách nhi tứ thì thành.
Tức như: một quốc gia, một xã hội, đã hủ bại đạt ư cực điểm, mà còn để nằm im hoài. Tỉ như: Hạ chẳng cách làm Thương, Thương chẳng cách làm Chu, thời thương sinh bách tính lúc bấy giờ, e thảy chết vào trong tay tàn ác của Kiệt, Trụ. Vậy Thang phải đuổi Kiệt mà cách mạng Hạ, Võ phải đánh Trụ mà cách mạng Thương. Thang, Võ sở dĩ phải cách mạng như thế, cũng chỉ là thuận với đạo trời mà ứng với lòng người.
Thiên, nghĩa là trời. Thì thế đã đến lúc đáng Cách, chiều thì thế mà Cách, đó là thuận với thì trời.
Nhân, nghĩa là lòng người. Nhân dân khốn khổ, thì cuộc đảo điên, lòng người đã trông mong cho được Cách. Chiều lòng người mà Cách, như thế là ứng với người.
Xưa nay, những công việc Cách mạng, tất thảy là trời kéo đặt ở đường trước, mà người xui giục ở đường sau, thuận ứng mà làm, chẳng bao giờ cãi trời chống người mà làm nên. Lớn lao vậy thay! là thì Cách.
Bởi vì, công việc ở thì Cách, chẳng phải một "Nghĩa" hay một "Dụng" mà thôi, Cách tất phải có mục đích vừa thủ đoạn. Mục đích tất là hay vì chữ Nghĩa, thủ đoạn giỏi là diệu vì chữ Dụng, nên nói một chữ Thì là bao bọc cả chữ Nghĩa với chữ Dụng. Nếu chỉ nói một chữ Nghĩa, té ra có mục đích mà không thủ đoạn; nếu chỉ nói một chữ Dụng thời té ra có thủ đoạn mà không mục đích.
Tổng chi, Nghĩa với Dụng đã nhốt vào trong chữ Thì, mà Thì thời dòm vào đâu? Chỉ dòm vào Nhân với Thiên, dòm vào Thì thế với Hoàn cảnh, mà biết được Thiên, dòm vào Tâm lí quần chúng mà biết được Nhân. Thiên Nhân đã thảy thuận ứng, tức là thì đáng Cách.
PHỤ CHÚ: Hai chữ Cách mệnh ở đời bây giờ đã thành một danh từ ở đầu miệng người. Nhưng hỏi đến Cách mệnh là nghĩa làm sao? Thời chưa ai giải thích một cách cho xứng đáng.
Bây giờ xin theo ý nghĩa Dịch mà giải thích ra sau này: Cách, nghĩa là thay đổi; Mệnh, nghĩa là chính lệnh. Thay đổi một quốc gia, một triều đình hoặc một Chính phủ, tất thảy là thay đổi chính lệnh cũ, mà thi hành chính lệnh mới.
Chỉ chứng vào Thang, Võ, thời nghĩa hai chữ Cách Mệnh, chỉ có ngần ấy. Nhưng theo học thuyết đời nay, thời Cách mệnh chỉ giảng bằng một chữ Cách là đủ.
Tỉ như: Ở trong một gia đình, đổi một tập quán cũ, mà thay vào tập quán mới, thời gọi bằng Gia đình cách mệnh.
Ở trong dân tộc, đổi một chủng tộc kia mà thay vào chủng tộc này, thời gọi bằng Dân tộc cách mệnh. Đổi một chế độ hủ bại xưa mà thay vào chế độ mới thời gọi bằng Quốc gia cách mệnh. Đổi một giai cấp cũ mà thay vào giai cấp mới thời gọi bằng Xã hội cách mệnh, như những loại ấy, v.v..., thời công việc gì không nói được Cách mệnh. Như thế, thời chỉ nói một chữ Cách là đủ, dầu thêm chữ Mệnh vào cũng thừa.
Tỉ như: Luân lí Cách mệnh, chức nghiệp Cách mệnh, công nghệ Cách mệnh, kinh tế Cách mệnh, học thuật Cách mệnh, so đọ với quốc gia Cách mệnh, chính trị Cách mệnh, thời một bên đúng với chữ Mệnh, mà một bên thời không dây dướng gì đến chữ Mệnh, chẳng qua chúng ta tiện miệng nói quen, thời nói luôn Cách mệnh cũng được.
Nói tóm lại, hễ đánh đổ cái cũ, sắm sửa cái mới; đạp đổ nền cũ, gây dựng nền mới; khua đuổi anh cũ, thay vào anh mới, tất thảy là Cách, mà cũng nói được Cách mệnh.
ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN
Tượng viết: trạch trung hữu hỏa, Cách; quân tử, dĩ trì lịch minh thì.
Ở giữa nước chằm có lửa, tất nhiên hai giống phải đánh nhau, lửa mạnh hơn thời khô được nước; nước mạnh hơn thời tắt được lửa, đó là tượng tranh đấu; tranh đấu tất phải biến Cách.
Quân tử xem vào Tượng ấy, mà nghĩa ra một việc biến Cách, sự đã rất to, lí lại rất rõ, chẳng gì bằng năm tháng thay đổi, quân tử mới bắt chước tượng Cách mà làm ra phép lịch, hoặc dùng lịch Thái Dương, hoặc dùng lịch Thái Âm, để cho minh bạch thứ tự bốn mùa. Đó là biến Cách thuộc về thì gian rất chóng vánh.
Ngày, thời có buổi mai, buổi đêm, là Cách thuộc về một ngày; Tháng, thời có ngày hối, ngày sóc, ngày huyền, ngày vọng, là Cách thuộc về một tháng; Năm có Xuân, Hạ, Thu, Đông là Cách thuộc về một năm; dài cho đến một Vũ trụ, một thế kỉ, mà năm tháng vận hội lần lần thay đổi cho đến vô cùng; đó lại là Cách thuộc về thì gian rất lâu dài.
HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN
1. - Sơ Cửu, Củng dụng hoàng ngưu chi cách.
Biến cách là một việc rất lớn, tất phải có Thì, có Vị, có Tài; đủ ba cái ấy mà còn phải thẩm thận kĩ càng, dòm trước ngó sau, mới dám bắt đầu hành động. Nếu không như thế, chưa có thể thành công. Huống gì chỉ có Thì mà thôi, mà Vị thời quá thấp, Tài lại quá hèn, chớ vội nói Cách.
Như Sơ Cửu này, kể theo Vị, thời Vị còn ở dưới thấp, kể bằng Tài thời cương mà bất trung, tùy ở vào thì Cách, nhưng còn là Cách chi sơ; chính là lúc thì cơ chưa thành thục. Thì còn lỡ dở, mà lấy một hạng người vô tài vô vị như Sơ Cửu, mà bảo làm công việc biến Cách, chẳng nguy hiểm lắm hay sao? Nên hào từ răn cho rằng: Sơ, mày quá cương táo, vị lại quá thấp, vả trên không người ứng viện, Sơ chớ nên vội nói chuyện Cách, chỉ nên giằng tính cương táo mà giữ bằng một cách trung thuận; giữ được trung, thời khỏi mắc bệnh cương táo; giữ được thuận thời khỏi mắc lỗi trái Thì.
Sơ mà biết cẩn thận như thế, lại giữ được bền dai, thiệt là đáng may cho Sơ đó, tượng như dụng da trâu vàng mà bó thiệt chặt. Nên nói rằng: Củng dụng hoàng ngưu chi cách.
Chữ Cách ở đây, chỉ nghĩa là da; Hoàng, là thí dụ bằng đức Trung; Ngưu là thí dụ bằng tính thuận; Củng, nghĩa là buộc chặt. Bền chặt đạo trung thuận, tượng như bó buộc mà dùng da trâu vàng.
Tượng viết: Củng dụng hoàng ngưu, bất khả dĩ hữu vi dã.
Sơ Cửu, kể về Thì, thời mới bắt đầu vào thì Cách; kể vào Vị, thời ở dưới hết quẻ; kể Tài thời cương mà bất trung; tất thảy là không thể hữu vi, nên chỉ Củng dụng hoàng ngưu chi cách mà thôi.
2. - Lục Nhị, dĩ nhật, nãi cách chi, chinh, cát, vô cựu.
Ở vào thì Cách đã đến vị Nhị, là cơ hội Cách đã tới nơi, mà bản thân Lục Nhị nhu thuận đắc trung đắc chính, ở vào chính giữa Nội Li, lại làm chủ cho văn minh ở trên có Cửu Ngũ, là dương cương cư tôn cũng có đức trung chính mà ứng với Nhị.
Vì có đức Trung chính nên không chênh lệch, vì có đức Văn minh nên không lầm tối.
Vì trên có Ngũ ứng với, thời quyền thế lại ở trong tay mình, đủ cả mọi việc hay như thế. Thì đã đến rồi, Vị đã có rồi, Tài đã sẵn rồi, bắt tay làm việc Cách đáng lẽ không ngại gì. Nhưng mà phá hoại đương lúc bắt đầu, mà kiến thiết còn chưa thấy hiện. Bảo rằng: Bỏ nền cũ, dựng nền mới, há phải nóng nảy mà làm nên rư? Lại tất phải sắp đặt trong bấy nhiêu ngày, thảm đạm kinh dinh, no tuần đủ tháng, thấy được kẻ trên tín dụng, kẻ dưới phục tòng, bây giờ mới thẳng tay Cách cố, mà dựng nên nền đỉnh tân. Lành thay! tốt thay! tài như vậy, đức như vậy, lại được cả Thì với Vị, mà còn đón trước nhắm sau, Dĩ nhật nãi cách, thiệt là một thủ đoạn rất giỏi ở thì Cách.
Lúc bây giờ thẳng bước tiến lên, sấm theo gió lướt, thành công tác tạo, núi tốt sông tươi. Thế là Chinh, Cát, mà lại vô cựu.
PHỤ CHÚ: Lục Nhị với Cửu Ngũ, là hai hào rất tốt ở quẻ Cách, mà lại đồng đức ứng với nhau, Đức xứng theo Vị, Vị xứng theo Tài, Tài lại đúng theo Thì, nhưng mà hào từ còn có câu Dĩ nhật nãi cách chi, tấn hành bằng một cách rất cẩn trọng. Vậy mới biết: Cách là một việc rất nhu yếu ở trong xã hội, lại là một việc rất gian nan ở trong xã hội. Khi chưa nên Cách mà chưa Cách như Sơ Cửu, chính là đương buổi Tiềm dưỡng mà chờ ngày Hữu vi.
Khi đáng Cách mà Cách, tất phải như Lục Nhị: đủ ngón kinh quyền mới khỏi thất bại. Huống gì thì thế chưa thành thục mà tài đức với vị còn thua Ngũ với Nhị xa.
Than ôi! Cánh muỗi mà khiến đội non, chân hôn mà khiến bơi bể, chẳng nguy hiểm lắm hay sao! Nên Thánh nhân không dám khinh dị nói Cách mệnh.
Tượng viết: dĩ nhật cách chi, hành hữu gia dã.
Tài, Đức, Vị, Thì thảy đều đủ như Lục Nhị mà còn chờ Dĩ nhật nãi cách chi, thời tấn hành chắc có công tốt.
Gia, nghĩa là có công tốt, cũng nghĩa là đáng khen.
3. - Cửu Tam, chinh, hung, trinh, lệ, cách ngôn tam tựu, hữu phu.
Cửu ở vị Tam, là dương cương bất trung, vì ở vào thì Cách, lại đứng vào vị trên hết Nội quái, nhân lòng người mong mỏi, nên Tam cũng nóng nảy bằng cách tấn hành. Tuy nhiên, xưa nay làm Cách há phải tài cương tính táo mà làm nên được rư? Nên hào từ răn cho rằng: Tam ơi! Nếu chỉ dùng cách liều mà tấn hành, thời chỉ làm hại cho việc Cách mà thôi. Ta bảo cho Tam phải nên thế này: Giữ chủ nghĩa cho trinh chính, lại thường nguy cụ tiểu tâm luôn luôn. Như thế, là căn bản làm việc Cách đã vững vàng, nhưng chương trình kế hoạch cũng chẳng phải sơ suất mà nên. Tài tất phải nhóm họp bạn đồng tâm, châm chước cơ thành bại, sơ đi phúc lại, những kế hoạch dụng ra làm Cách đó, một lần chưa chín thời hai, hai lần chưa chín thời ba, tính toan sắp đặt đến ba lần, chắc không có điều gì là khuyết điểm. (Cách ngôn, là những mưu kế thuộc về việc. Cách Tam tựu, nghĩa là thành tựu đến lần thứ ba). Thì đã đến trung gian ở thì Cách, mà kế hoạch chương trình, lại thu xếp sắp đặt được viên mãn, thời công việc Cách được kết quả chắc chắn.
Chữ Phu ở đây, không học nghĩa Phu là tin, mà học nghĩa Phu là chắc chắn, cũng ý là khả tất.
Tượng viết: Cách ngôn tam tựu, hựu hà chi hĩ.
Hựu hà chi, ý như: Cách hà vãng hồ, nghĩa là Cách ngôn mà đã đến tam tựu, là đã thẩm thận đến mực rồi, còn lại thêm bằng cách gì nữa!
Tượng truyện nói thêm vào như thế, là sợ thẩm thận thái quá, bàn bạc phân vân, sẽ mắc phải bệnh nghị luận đa, nhi thành công thiểu, nên lại răn rằng: Vừa đến tam tựu là đúng mực rồi, còn lại thêm bằng cách gì nữa. Đó là ý Tượng truyện bổ túc cho hào từ.
4. - Cửu Tứ, hối vong, hữu phu, cải mệnh, cát.
Hào Cửu ở vị Tứ, theo như quẻ khác đáng lẽ là Hữu hối, nhưng mà Dịch lí tùy Thì biến hóa, nên Cửu Tứ bỏ nghĩa thường như mọi hào, mà thủ nghĩa bằng cách đặc biệt.
Hễ làm việc Cách ở thì Cách, quá ư nhu thời không dám nói Cách, quá ư cương thời ham làm Cách, mà hay hỏng việc. Duy hào này Cửu cư Tứ, là có cương mà pha vào nhu, có nhu mà giúp với cương, năng cương, năng nhu, mới là diệu dụng ở thì Cách, nên hào từ nói rằng: Cửu Tứ, hối vong; chính vì giữa bản thân Cửu Tứ mà chắc những việc đáng ăn năn như trước kia, tất thảy khỏi ráo. Vả lại, Cửu Tứ này đã vượt khỏi trung đoạn Cách, mà lên tới chung đoạn. Thế là Cách đã đến nhịp gần thành công. Trải thì giờ Cách đã khá lâu, chắc công việc Cách đã khá lắm, chương trình kế hoạch cũ e phải châm chước theo Thì mà sửa đổi. Nhưng trong lúc sửa đổi đó, chưa chắc trong đảng phái, hay xã hội toàn thể thừa nhận hay chưa. Nên lại phải dày thêm đức chí thành của mình, khiến cho đại đa số tin rằng: Những việc cải cách đó rặt là Hữu lị nhi vô hại, vị công phi vị tư.
Thế là hữu phu rồi, bây giờ ta cải mệnh, thời chắc được cát.
Cải, nghĩa là sửa đổi, hoặc chương trình cũ còn lược, mà bây giờ phải thêm tường, hoặc thủ đoạn cũ đã quá xưa, bây giờ phải dụng thủ đoạn mới. (Mệnh, là chương trình kế hoạch, mà người trên xuất phát cho người dưới tuân theo, gọi bằng Mệnh lệnh).
Tượng viết: cải mệnh chi cát, tín chí dã.
Cải mệnh mà được cát, là vì tinh thần của người chủ Cách, trên dưới thảy tin theo rồi vậy; Chí, nghĩa là tâm chí (Tín chí, là tin ở nơi tinh thần, chớ không phải tin ở hình thức đó vậy).
5. - Cửu Ngũ, đại nhân, hổ biến, vị chiêm, hữu phu.
Quẻ Cách đã lên tới Ngũ là thì Cách đã thành thục được chín phần, mà Ngũ lại có tài dương cương, có đức trung chính, đứng vào vị Nguyên thủ ở trong đời Cách. Như thế, thiệt xứng đáng một bậc đại nhân. Lấy một người đại tài đại đức xử vào vị chí tôn, đem thân ra làm việc Cách cho thiên hạ, đi tới đâu thời thấy công dụng biến hóa đó, làm việc gì thời thấy thành hiệu rõ ràng; in như con cọp đã đến lúc thay lông đổi vẻ, nên nói rằng: Đại nhân, hổ biến. Hổ là giống muông có văn thái, đến lúc thay lông lại càng rực rỡ, nên thí dụ bằng công việc Cách đã hoàn thành. Hổ không phải thí dụ vào đại nhân, mà thí dụ vào thiên hạ ở Thì ấy. Thiên hạ nhờ đại nhân ra tay biến Cách, mà chốn nào chốn nấy rực rỡ văn minh. Như thế là hổ biến.
Đại nhân làm nên công việc hổ biến như thế, há phải chờ đến khi kết quả mà thiên hạ mới tin rư? Đức trung chính chất chứa đã lâu ngày, tài dương cương uẩn súc đã lâu ngày, nên khi mới bước chân lên Vũ đài mà thiên hạ đã tín ngưỡng, chính là đã sẵn lòng tin trước khi chưa bói kia vậy.
Chiêm, nghĩa là bói, thường tình hay chờ bói mới tin, nên mượn chữ Vị chiêm mà tỏ rõ ý tin sẵn, trước lúc chưa bói mà đã quyết tin như thế.
PHỤ CHÚ: Vị chiêm ở hào này, in như vua Thành Thang khi chưa đánh Hạ đuổi Kiệt mà quân của vua Thang tới đâu, thời thất gia tương khánh, mà bảo với nhau rằng: Chờ vua ta, vua tới thời ta sống lại.
Lại như, vua Lê Thái Tổ nước ta, khi chưa về tới Thăng Long, mà quân vua đi tới đâu, từ Tân Bình tới Nghệ Thanh, tất thảy trống cờ đón rước. Cách mệnh mà được như thế, còn chờ gì bói nữa đâu!
Tượng viết: đại nhân hổ biến, kì văn bính dã.
Đại nhân hổ biến, nghĩa là đại nhân làm nên việc Cách, thời thiên hạ ở lúc bấy giờ in như cọp đã thay lông, mà văn chương rực rỡ vậy.
6. - Thượng Lục, quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh, hung, cư trinh, cát.
Hào từ Thượng Lục vừa tiếp lấy Cửu Ngũ, mà nói cho đến lúc cuối cùng thì Cách, nên hào từ không chú trọng chữ Lục, mà chỉ chú trọng vào chữ Thượng, Thượng là cách chi trung. Cách đạo đến bây giờ đã đạt ư cực điểm. Người thiên hạ đến lúc đó chia làm hai hạng, hạng người từ bậc trung sắp lên, mà gọi bằng quân tử, đạo đức đầy đủ, chưa bậc Thánh cũng là bậc hiền, trí thức mở mang, đổi lốt cũ mà thay ra lốt mới, tất khắp thảy hạng người này, in như con báo thay lông mà vẻ vang rực rỡ; còn một hạng người nữa, phần nhiều là bậc hạ ngu, mà gọi bằng tiểu nhân, tới lúc bây giờ họ bị lùa đuổi vì làn sóng mới, tuy không biến hóa đến gan ruột, nhưng cũng thay đổi ở ngoài mặt, mà đi vào lối lương thiện.
Thì đại Cách mà đã đến lúc ấy, thuộc về xã hội quân tử, tỏ rõ ra vẻ mới văn minh; mà thuộc về xã hội tiểu nhân, cũng thay hết những lối hủ bại. Cách đạo đến đó là đã hoàn thành rồi, trên đường kiến thiết đã chỉnh đốn được hoàn toàn, thời những món phá hoại như thuở xưa, bây giờ phải tấp dẹp cho yên lặng, chỉ nên thủ thành mà không nên canh động nữa.
Nếu trái lại, Cách đã thành rồi, mà lại còn canh cách nữa, thời chẳng những hoại mất nghiệp hiện thành, mà lại gây nên những mối hậu hoạn, ấy là chinh, thời hung mà thôi.
Quân tử ở Thì bây giờ, chỉ có chữ Trinh thời Cát. Cư trinh, nghĩa là yên ở vào lối chính đạo. Chữ Trinh này với chữ Trinh ở Quái từ gốc chỉ một lẽ. Lúc đầu bắt tay vào làm Cách đã cốt ở lị trinh, đến khi cuối cùng thì Cách cũng chỉ là cư trinh. Trung gian dầu trải bao nhiêu thì giờ, dụng bấy nhiêu thủ đoạn, nhưng một chữ Trinh đó hữu thỉ hữu chung, triệt thủ triệt vĩ, mới là Cách đạo chi chí thiện.
Vậy nên cuối cùng quẻ Cách phải có lời răn rằng: Cư, Trinh, Cát. Kìa như Viên Thế Khải đánh đổ Mãn Thanh, dựng thành Trung Hoa Dân quốc là Cách thành rồi, mà còn biến canh quốc thể, dựng triều Hồng Hiến, kết quả thân danh lưỡng vong.
Kìa Nã Phá Luân đánh đổ nền Quân chúa, khai Quốc hội, dựng Hiến pháp, chẳng phải là Cách đã thành rồi hay sao, mà quay lại còn xưng đế tự hùng? Kết quả cũng thân danh lưỡng bại. Cái gương hai người đó thiệt là Chinh hung.
Đọc ba chữ "Cư, Trinh, Cát" càng bội phục ông Hoa Thịnh Đốn, bát niên huyết chiến, đánh đổ quân Chính phủ nước Anh, dựng thành nước Hợp chủng dân chủ, nhường vị Đại Tổng thống cho kẻ khác, mà mình y nhiên làm một tên bình dân, đến lúc bây giờ dân nước Mĩ còn gọi ông bằng Quốc phụ, chẳng phải là Cư, Trinh, mà được Cát hay sao?
Tượng viết: quân tử, báo biến, kì văn úy dã, tiểu nhân cách diện, thuận dĩ tòng quân dã.
Quân tử báo biến là đã Cách hết cũ, mà thay ra mới, mà văn chương rực rỡ ra ngoài vậy. Còn tiểu nhân tuy chưa Cách đến tâm, mà cũng đã Cách tới diện, đổi cương ác ra làm nhu thiện, thuận tòng với quân tử vậy.
Trình truyện thích bài này có một đoạn giảng đạo lí, tuy không phải thích nghĩa hào, nhưng theo về tâm lí học, cũng khải phát cho người được nhiều, nên dịch vào đây.
Trình truyện nói rằng: Nhân tính bản thiện, mà cớ gì có một hạng người không làm thế nào cho nó Cách được tâm, thế thời nhân tính vẫn ác hay sao? Không phải, lẽ đó vì chữ "Tính", chữ "Tài" khác nhau.
Theo về phần "tính", thời tất thảy người vẫn lành. Theo về phần "tài", vẫn có khác nhau là "thượng trí" với "hạ ngu".
Đã thượng trí vẫn không thay đổi mà hạ ngu vẫn cũng không thay đổi. Nhưng trong bọn hạ ngu chỉ có hai hạng người: một hạng là tự bạo; một hạng là tự khí. Hễ người nếu đã chịu nghe điều lành, thời dầu sắt mài mãi cũng nên kim, đá đốt mãi cũng nên tro, có lẽ nào mà không thay đổi được. Duy hạng người tự bạo tự khí thời trái hẳn. Phần "tài", họ thuộc về phần nhu ám, thời gọi bằng Tự khí, họ tự nói rằng: Thánh hiền hào kiệt đâu đến phần mình, tự mình họ, họ cho là đồ bỏ đi, hạng ấy vẫn là hạ ngu.
Lại còn một hạng, phần "tài" họ thuộc về phần cương cường, thời gọi bằng Tự bạo, bản thân họ vẫn có tài lực hơn người, trong mắt họ không xem bậc Thánh hiền hào kiệt vào đâu, họ bảo làm việc thiện, dầu sức họ làm được, song họ có chịu làm đâu. Hạng người đó, tuy vẫn không phải như hạng tự khí, nhưng tổng chi cũng là một hạng hạ ngu.
Những hạng hạ ngu như thế, chẳng bao giờ mà họ cách tâm được. Duy ở vào thì Cách phần quân tử đã quá đông, phần tiểu nhân đã không thể dung được ở trong quần chúng, nên họ cũng phải cách diện, dầu có Thánh nhân cảm hóa thế nào, cũng chỉ hiến cho họ giả làm quân tử ngoài mặt, chứ không thể cưỡng bách họ làm được quân tử thiệt. Trong Dịch có câu: Tiểu nhân cách diện, không phải tội vì phần tính, mà tội vì phần tài. Tài thời có phần ác, mà tính chỉ có phần thiện, chớ thấy có hai chữ Cách diện mà nhận lầm rằng: Tính người có phần ác.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc hết những sử Cách mệnh ở các nước, tuy có đám lớn đám nhỏ, đám được đám hỏng, đám thua đám nên. Nhưng xét cho đến nhân quả, tìm cho hết lí do, thời không khỏi ra ngoài phạm vi quẻ Cách.
Xem ở Quái từ, thời có câu: Dĩ nhật nãi phu; hào từ có câu: Dĩ nhật nãi cách chi, thời biết được việc Cách há phải bỗng chốc mà làm nên? Lại xem tầng thứ ở sáu hào, thời biết được nước trước nước sau, khuôn nhỏ khuôn lớn, tấn hành rất có trật tự, sắp đặt rất có quy mô, chẳng bao giờ sơ suất rối ren mà làm nên Cách. Khi mới bắt đầu vào thì Cách, như Sơ Cửu thời chỉ "Củng dụng hoàng ngưu chi Cách". Đến khi Cách đã sắp sửa thành công, thời thấy được "hổ biến, báo biến". Nhưng ở trung gian, Lục Nhị phải thẩm thận bằng "Dĩ nhật" mới mong được chinh cát; Cửu Tam phải kỹ càng bằng "Cách ngôn tam tựu" mà còn lo sợ chinh hung; Cửu Tứ, Cách đã đến nửa chừng, thời lại tấn lên một tầng mà "Hữu phu cải mệnh".
Nhưng ở trong Quái từ, hào từ lại có một ý sâu xa nhất là chữ "Hữu phu". Ở Quái từ đã có chữ "Nãi phu", sáu hào thời Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ thảy có chữ "Hữu phu", chỉ một chữ "Phu" mà phản phúc đinh ninh như thế.
Phu, chỉ nghĩa là tin, xưa nay ở thì Cách, làm việc Cách, mà nếu xã hội còn đương hoán tán, nhân tâm còn đương nghi ngờ, chưa mua được lòng tin của người đại đa số, mà vội nói làm Cách mệnh, sử Cách mệnh chưa thấy đám nào được như thế mà làm nên cả.
Chẳng nói đâu xa, như hiện gần đây, ông Khải Nạp Nhĩ (Mustapha Kemal) ở Thổ Nhĩ Kì, ông Lénine ở Nga La Tư, sự nghiệp to lớn biết dường nào, mà nhân tâm hai nước ấy tin phục hai ông lại biết chừng nào! Đương khi chưa làm Cách mệnh, mà người trong nước thảy đều xem như một vị Thánh thần, đến khi cất gánh Cách mệnh, thời người trong nước lại thảy xem như cha mẹ. Chúng ta mới biết rằng: Đầu đuôi quẻ Cách mà chỉ nhắc đi nhắc lại có một chữ Phu, thiệt là Kim Khoa Ngọc Luật cho nhà làm Cách mệnh đó vậy. Than ôi! Chân lí như thế, diệu dụng như thế. Dịch há phải là sách không ngôn đâu! Ai sinh ở đời Cách mệnh, muốn làm việc Cách mệnh, thời nên hấp thụ cho hết tinh thần quẻ Cách. Cách chi công dụng đại hĩ tai.